![]() |
Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026–2030 đặt Việt Nam trước yêu cầu khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực phát triển. Dòng vốn, công nghệ, hàng hóa và lao động vận động trên những mạng lưới ngày càng rộng, đòi hỏi quy hoạch và quản trị phải vượt khỏi cách tiếp cận khép kín trong từng địa phương.
Một tuyến đường có thể đi qua nhiều tỉnh, một cảng biển có thể phục vụ cả vùng, một khu công nghiệp có thể thu hút lao động từ nhiều địa phương. Nhưng nếu mỗi nơi chỉ tính toán trong phạm vi địa giới của mình, những kết nối ấy khó phát huy đầy đủ giá trị. Nguồn lực vẫn có thể được huy động lớn, trong khi hiệu quả bị hạn chế bởi quy hoạch thiếu đồng bộ và lợi ích chưa được điều phối.
Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển. Theo đó, phát triển vùng trở thành phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, chuyển từ quản lý theo địa giới hành chính sang kiến tạo, dẫn dắt và khơi thông nguồn lực trên cơ sở các hệ sinh thái tích hợp.
Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nhiều địa phương có không gian rộng hơn, nguồn lực lớn hơn. Cơ hội đặt ra là tổ chức lại những nguồn lực ấy để hình thành các cực tăng trưởng có năng lực cạnh tranh và sức lan tỏa. Điều này đòi hỏi nhìn rõ cả những mô hình đã thành công lẫn các điểm nghẽn đang cản trở bước phát triển tiếp theo.
![]() |
Ảnh minh hoạ
![]() |
Năm 2025, trong bối cảnh GDP cả nước tăng 8,02%, Quảng Ninh, Hải Phòng và Bắc Ninh tiếp tục là những điểm sáng với tốc độ tăng GRDP lần lượt đạt 11,89%, 11,81% và 10,27%. Đằng sau các con số là những cách tổ chức không gian và huy động nguồn lực khác nhau, cùng cho thấy vai trò của tư duy phát triển và năng lực thực thi ở địa phương.
Với Quảng Ninh, dấu ấn nổi bật là quá trình chuyển đổi từ “nâu” sang “xanh”, từng bước giảm sự phụ thuộc vào khai thác than, khoáng sản để phát triển du lịch, dịch vụ và công nghiệp sạch. Định hướng này được hỗ trợ bằng quy hoạch chiến lược và cách huy động nguồn lực linh hoạt, trong đó có các mô hình hợp tác công – tư, “đầu tư công – quản lý tư”, “đầu tư tư – sử dụng công”.
Mạng lưới cao tốc kết nối với sân bay, cảng biển và khu vực biên giới đã giúp địa phương mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Khi những đầu mối ấy liên thông, du lịch, thương mại và sản xuất có thêm điều kiện hỗ trợ lẫn nhau. Bài học của Quảng Ninh nằm ở việc đặt đầu tư hạ tầng trong một định hướng chuyển đổi kinh tế dài hạn, tạo nền tảng cho các hoạt động mới phát triển.
Với Hải Phòng, lợi thế cảng biển được phát huy thông qua kết nối khu công nghiệp, cảng nước sâu, logistics và không gian đô thị. Sự gắn kết này giúp doanh nghiệp tổ chức sản xuất, vận chuyển hàng hóa và tiếp cận thị trường quốc tế thuận lợi hơn.
Giá trị của cảng biển vì thế còn được thể hiện ở khả năng thu hút cơ sở sản xuất, phát triển dịch vụ hậu cần và tạo việc làm trên một hành lang kinh tế rộng lớn. Khi cảng, đường giao thông và khu công nghiệp được quy hoạch trong cùng một hệ thống, mỗi cấu phần có thể làm tăng hiệu quả của những cấu phần còn lại.
Trong khi đó, Bắc Ninh phát triển dựa trên khả năng thu hút các tập đoàn công nghệ toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực điện tử, từng bước trở thành mắt xích quan trọng của chuỗi cung ứng quốc tế. Sự hiện diện của các doanh nghiệp này tạo nền tảng sản xuất quy mô lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hạ tầng, nhân lực và chất lượng điều hành.
Thách thức tiếp theo là tăng mức độ gắn kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa. Khi doanh nghiệp trong nước có thể cung ứng linh kiện, dịch vụ kỹ thuật hoặc đảm nhận những công đoạn phức tạp hơn, lợi ích từ dòng vốn đầu tư mới chuyển sâu hơn vào nền kinh tế địa phương. Đây là hành trình cần sự hỗ trợ bền bỉ về công nghệ, tiêu chuẩn, nhân lực và kết nối thị trường.
Các trường hợp trên cho thấy lợi thế địa lý và nguồn lực sẵn có chỉ là điểm xuất phát. Khả năng biến lợi thế thành động lực tăng trưởng phụ thuộc vào cách địa phương lựa chọn hướng đi, tổ chức hạ tầng và xây dựng các mối liên kết kinh tế.
![]() |
TS. Nguyễn Quốc Việt - Chuyên gia Chính sách công, Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN
![]() |
Bước sang năm 2026, bản đồ tăng trưởng tiếp tục ghi nhận sự bứt phá của nhiều địa phương. Trong chín tháng đầu năm, GRDP Hà Tĩnh ước tăng 12,36%; Ninh Bình 11,31%; Thái Nguyên 11,24%; Hưng Yên 11,22%; Tây Ninh 10,30% và Phú Thọ 10,01% so với cùng kỳ năm trước.Sự mở rộng của công nghiệp chế biến, chế tạo, cùng các dự án mới đi vào vận hành, hạ tầng từng bước hoàn thiện, đang góp phần bổ sung năng lực sản xuất, mở rộng những động lực tăng trưởng.
Hà Tĩnh là một ví dụ đáng chú ý. Các dự án sản xuất xe điện VinFast với tổng vốn đầu tư 13.250 tỷ đồng, Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng trị giá 13.276 tỷ đồng, cùng Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II đang bổ sung những cấu phần quan trọng cho không gian công nghiệp của địa phương. Trong mối liên hệ với Khu kinh tế Vũng Áng và hệ thống cảng biển, các dự án này mở ra khả năng phát triển một tổ hợp sản xuất – năng lượng – logistics có tính bổ trợ.
Với Hưng Yên, động lực công nghiệp gắn với sự phát triển của các khu công nghiệp dọc những trục giao thông chiến lược. Thăng Long II, Phố Nối A, Yên Mỹ góp phần tạo nền tảng thu hút đầu tư, khai thác lợi thế kết nối với Hà Nội và các trung tâm sản xuất, cảng biển phía Bắc. Trong chín tháng đầu năm 2026, tỉnh thu hút gần 1,79 tỷ USD vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm, tiếp tục bổ sung nguồn lực cho phát triển công nghiệp.
Sự bứt phá của các địa phương đang mở ra những động lực tăng trưởng mới. Để duy trì đà phát triển ấy, mỗi dự án cần giúp nền kinh tế địa phương tích lũy thêm năng lực: doanh nghiệp nội địa có thêm đơn hàng và điều kiện nâng cấp sản xuất, người lao động nâng cao kỹ năng, các địa phương lân cận có cơ hội tham gia chuỗi giá trị. Khả năng lan tỏa đó phụ thuộc trước hết vào sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp — những chủ thể trực tiếp kết nối và chuyển hóa cơ hội đầu tư thành giá trị kinh tế.
![]() |
![]() |
Nhìn từ góc độ này, kết quả tăng trưởng tích cực vẫn đặt ra một vấn đề cần quan tâm: khả năng nắm bắt cơ hội phát triển còn chênh lệch giữa các nhóm doanh nghiệp. Bên dưới kết quả tăng trưởng tích cực, sức khỏe doanh nghiệp đang bộc lộ sự phân hóa theo hình chữ K. Ở nhánh đi lên, khu vực FDI và một số tập đoàn lớn trong nước có khả năng gắn kết với các dự án đầu tư công quy mô lớn tiếp tục mở rộng hoạt động, thuận lợi hơn trong tiếp cận vốn và hưởng lợi từ các chính sách ưu đãi. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng khoảng 5 triệu hộ kinh doanh, phải đồng thời chịu sức ép từ chi phí đầu vào, thị trường tiêu dùng nội địa phục hồi chậm và yêu cầu thích ứng với các quy định, tiêu chuẩn mới.
Sự phân hóa này đặt ra câu hỏi về tính bền vững của tăng trưởng. Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xem xét chất lượng tăng trưởng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống nhân dân. Yêu cầu ấy đặt ra một hệ quy chiếu rõ hơn cho quản trị phát triển: cùng với sản lượng, phải coi sức khỏe doanh nghiệp và năng lực nội sinh là những thước đo trung tâm.
Một cực tăng trưởng khó có thể phát triển bền vững nếu chỉ khu vực FDI và doanh nghiệp lớn liên tục mở rộng, do đó doanh nghiệp nội địa nhỏ và vừa cũng phải đặt cho mình một lộ trình phát triển tương ứng. Thu hút đầu tư vì thế phải đi cùng tạo điều kiện để cộng đồng doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực và tham gia sâu hơn vào các hoạt động kinh tế đang hình thành.
Đánh giá một cực tăng trưởng vì thế cần gắn tốc độ tăng GRDP với năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống người dân. Các thước đo ấy có mối liên hệ chặt chẽ: doanh nghiệp muốn nâng năng suất phải thu hút và giữ chân được lao động; người lao động muốn gắn bó lâu dài cần có nơi ở phù hợp và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu. Bởi vậy, chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc vào cách địa phương kết nối không gian sản xuất với không gian sống.
![]() |
Trong thực tế, sự kết nối này chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghiệp tại nhiều địa phương. Nhà máy, khu công nghiệp mở rộng nhanh, trong khi hệ thống đô thị, nhà ở và hạ tầng xã hội phát triển chậm hơn, tạo ra khoảng cách giữa năng lực sản xuất và điều kiện sống của lực lượng lao động.
Ở phía Bắc, hành lang Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh cùng các trục cao tốc đã tạo điều kiện hình thành những cụm công nghiệp lớn. Các khu công nghiệp như Yên Phong, Quế Võ ở Bắc Ninh hay Phố Nối ở Hưng Yên thu hút đông đảo lao động. Tuy nhiên, tại nhiều khu vực, nhà ở và dịch vụ thiết yếu chưa được đầu tư tương xứng, khiến người lao động vẫn phải dựa vào các khu nhà trọ và dịch vụ tự phát.
Ở phía Nam, sự tập trung sản xuất và gia tăng dân số tại các đô thị công nghiệp như Biên Hòa, Dĩ An, Thuận An, Thủ Dầu Một tạo áp lực lớn lên giao thông và hạ tầng xã hội. Kết nối giữa nơi ở, nơi làm việc và đô thị trung tâm chưa đồng bộ làm tăng thời gian đi lại của người dân, đồng thời gia tăng chi phí vận hành của doanh nghiệp.
Tại miền Trung, các khu kinh tế ven biển như Dung Quất, Chu Lai, Chân Mây – Lăng Cô có vai trò quan trọng về sản xuất, nhưng hệ thống đô thị và dịch vụ phụ cận còn những hạn chế. Khả năng thu hút, giữ chân chuyên gia và kỹ sư phụ thuộc cả vào chất lượng nhà ở, trường học, y tế và môi trường sống.
Những bất cập ấy tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh. Khi người lao động khó ổn định cuộc sống, doanh nghiệp cũng khó ổn định nhân lực, phải dành thêm nguồn lực cho tuyển dụng và đào tạo.
Quy hoạch khu công nghiệp vì vậy cần tính ngay từ đầu đến nhà ở, giao thông công cộng và các dịch vụ thiết yếu. Hạ tầng xã hội là một điều kiện để duy trì năng lực sản xuất và nâng năng suất lâu dài.
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là sự phân mảnh trong quy hoạch và quản trị không gian phát triển. Công nghiệp thường được ưu tiên theo mục tiêu thu ngân sách ngắn hạn hoặc bám theo các trục hạ tầng giao thông, trong khi quy hoạch đô thị và hạ tầng xã hội chưa được kết nối đồng bộ ngay từ đầu. Mỗi lĩnh vực theo đuổi những mục tiêu quản lý riêng, khiến không gian sản xuất và không gian sống phát triển lệch nhịp.
Ở cấp độ liên vùng, tư duy tối đa hóa lợi ích trong địa giới từng tỉnh cũng làm hạn chế hiệu quả chung. Khi mỗi địa phương xây dựng quy hoạch như một “ốc đảo”, tính liên tục và bổ trợ của cả hành lang kinh tế dễ bị bỏ qua. Điểm nghẽn vì thế nằm cả ở sự thiếu hụt công cụ quy hoạch tích hợp và cơ chế điều phối lợi ích giữa các địa phương.
![]() |
![]() |
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp mở ra cơ hội tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả quản trị. Từ góc độ không gian kinh tế, yêu cầu đặt ra là chuyển không gian hành chính mới thành một không gian phát triển kinh tế tích hợp theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW. Muốn vậy, cần vượt qua tư duy quy hoạch khép kín trong phạm vi một tỉnh, chuyển sang quy hoạch tích hợp dựa trên hành lang kinh tế, với ba định hướng trọng tâm.
Trước hết, tổ chức hạ tầng giao thông gắn với phát triển đô thị và sản xuất. Các trục giao thông chiến lược, từ cao tốc Bắc – Nam, đường sắt tốc độ cao đến các tuyến vành đai liên tỉnh, cần được nhìn nhận là những trục kết nối và tổ chức không gian phát triển. Trong đó, mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng cần được vận dụng tại các khu vực phù hợp, nhất là quanh nhà ga và các đầu mối giao thông công cộng khối lượng lớn. Các cụm đô thị nén, đô thị vệ tinh phải được quy hoạch đồng bộ với mạng lưới vận tải, bảo đảm kết nối thuận tiện giữa nơi ở, nơi làm việc và các trung tâm dịch vụ.
Tiếp đến, đồng bộ hóa cụm ngành công nghiệp, đô thị sinh thái và hạ tầng xã hội. Ngay từ khâu lập quy hoạch, cần xác lập yêu cầu tích hợp bắt buộc giữa khu công nghiệp với đô thị phụ cận, nhà ở xã hội cho công nhân và các thiết chế thiết yếu như trường học, bệnh viện, không gian văn hóa. Không gian đô thị có chất lượng sẽ tạo điều kiện thu hút, giữ chân nhân lực và duy trì năng lực sản xuất lâu dài. Đây là cách khắc phục tình trạng nhà máy phát triển nhanh nhưng điều kiện sống của người lao động chưa theo kịp.
Cuối cùng, trao thẩm quyền thực chất cho các hội đồng điều phối vùng. Cần củng cố địa vị pháp lý của các hội đồng này để hoạt động điều phối có khả năng giải quyết những vấn đề vượt khỏi phạm vi từng địa phương. Theo đó, cần trao thẩm quyền thực chất trong phê duyệt quy hoạch liên tỉnh và phân bổ nguồn lực đầu tư công cho các dự án liên vùng; đồng thời xây dựng cơ chế điều tiết, chia sẻ lợi ích từ nguồn thu ngân sách giữa các địa phương trên cùng một hành lang kinh tế. Khi trách nhiệm, nguồn lực và lợi ích được gắn kết, các địa phương mới có động lực hợp tác lâu dài, hạn chế tư duy cục bộ và cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài bằng mọi giá.
Để các cực tăng trưởng phát triển thực chất, cần đồng thời đổi mới hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả phát triển của chính quyền địa phương, bám sát mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng của Nghị quyết 19-NQ/TW. Các tiêu chí phải phản ánh được bước chuyển từ tăng trưởng thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô sang tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số. Năng suất, năng lực doanh nghiệp nội địa và chất lượng sống của người dân cần trở thành những thước đo quan trọng của quá trình chuyển đổi ấy.
Nghị quyết 27-NQ/TW mở ra một tầm nhìn mới về tổ chức không gian phát triển quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Khi được triển khai đồng bộ, định hướng này có thể hình thành các vùng động lực vận hành thông minh, xanh và an toàn, dựa trên kinh tế số, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn; đồng thời tháo gỡ những rào cản hành chính đối với sự lưu chuyển của vốn, lao động, công nghệ và hàng hóa.
Để theo đuổi tăng trưởng hai con số và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, cần nhìn các cực tăng trưởng như những hệ sinh thái phát triển hoàn chỉnh. Tại đó phải có sự kết hợp giữa một thể chế pháp quyền nghiêm minh bảo vệ quyền tài sản, một môi trường kinh doanh nuôi dưỡng sức khỏe doanh nghiệp nội địa và một tư duy quy hoạch tích hợp, nhân văn, đặt đời sống người dân ở vị trí trung tâm.
Kiên định thực hiện các đột phá thể chế, nhìn thẳng và tháo gỡ những điểm nghẽn của quản trị phân mảnh sẽ tạo nền tảng hình thành các cực tăng trưởng mạnh, liên kết chặt chẽ và lan tỏa rộng khắp. Đó là cơ sở để bồi đắp năng lực tự cường của nền kinh tế, đưa đất nước tiến tới mục tiêu phát triển bằng sức mạnh được tích lũy từ doanh nghiệp, con người và từng vùng đất.
![]() |