![]() |
Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ, Mekong ASEAN đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến xoay quanh câu chuyện phát triển của ngành giai đoạn tới.
![]() |
Mekong ASEAN: Năm 2025 là năm kết thúc Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2025, đồng thời mang ý nghĩa bản lề cho giai đoạn phát triển 2026 – 2030. Nhìn lại một năm qua, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả của ngành?
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Trong bối cảnh khó khăn từ thị trường, thách thức từ thiên tai, chúng ta vẫn có thể khẳng định năm 2025 là một năm “vượt bão” đầy bản lĩnh, kiên cường của ngành nông nghiệp và môi trường. Ngành tiếp tục khẳng định vai trò “trụ cột” của nền kinh tế.
Nhìn lại chặng đường qua, tôi muốn dùng ba cụm từ để đánh giá: “Bứt phá ngoạn mục – Chuyển đổi tư duy – Kiến tạo bền vững”.
Điểm tựa đầu tiên, ngành đã hoàn thành và vượt toàn bộ 9 chỉ tiêu Chính phủ giao. Trong đó nổi bật là tăng trưởng GDP đạt 3,78%; kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản lập kỷ lục với 70,09 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 65 tỷ USD. Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều (0,8 - 1 điểm %); tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới cơ bản đạt mục tiêu năm 2025 và giai đoạn 2021 - 2025…
Ở điểm tựa thứ hai, ngành đã đẩy mạnh chuyển đổi tư duy, từ ”sản xuất” sang ”kinh tế”, từ ”nâu” sang ”xanh”, sản xuất nông nghiệp không còn đơn thuần chạy theo số lượng mà tập trung vào tăng hàm lượng giá trị sản phẩm. Tôi cho rằng, đây là dấu ấn bản lề nhất của giai đoạn 2021 - 2025.
Nhiều mô hình kinh tế tuần hoàn phát triển mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp xây dựng sản xuất khép kín, nhiều đề án nông nghiệp tiêu biểu được triển khai. Đơn cử, với Đề án một triệu ha canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp, gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thực hiện trên 312.000 ha với phần lớn rơm rạ được thu gom, tái sử dụng, xuất hiện những cánh đồng “không dấu chân”, tự động hóa 100%.
Điểm tựa thứ ba là quản trị tài nguyên, môi trường ngày càng hiện đại. Hệ thống giám sát tài nguyên, môi trường quốc gia dần được tích hợp toàn diện trên nền tảng số. Ngành đã ứng dụng AI và công nghệ viễn thám để giám sát rừng và dự báo thiên tai. Các vấn đề môi trường lớn được tập trung giải quyết, nguồn ô nhiễm được kiểm soát chặt chẽ, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái.
![]() |
![]() |
Mekong ASEAN: Trong vai trò đồng hành cùng nền kinh tế, doanh nghiệp và người nông dân suốt 80 năm qua, ngành đã và đang tập trung khơi thông điểm nghẽn, thay đổi để phát triển và bắt kịp với nền nông nghiệp thế giới. Xin Thứ trưởng chia sẻ thêm về các mục tiêu cũng như định hướng lớn của ngành nông nghiệp và môi trường trong năm 2026?
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định là năm có ý nghĩa quan trọng khi diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, tổ chức đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Năm nay cũng là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Với ý nghĩa đó, năm 2026, mục tiêu về tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng (VAT) toàn ngành đạt 3,7 – 4%; xuất khẩu nông lâm thủy sản với kỷ lục mới là 73 – 74 tỷ USD.
Bên cạnh đó, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn 2026 – 2030 là 15%. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 – 2030 giảm 1 - 1,5%/năm…
Từ những định hướng trên, ngành sẽ tập trung vào 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó, Bộ hoàn thiện thể chế, chính sách phục vụ tăng trưởng, phát triển ngành, cụ thể hóa các nội dung chính sách của Luật, Nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua để khơi thông nguồn lực phát triển.
Đồng thời, dồn lực vào cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, giá trị gia tăng; thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển mô hình nông nghiệp tiên tiến, nâng cao thu nhập của người dân.
Về xuất khẩu, ngành quyết liệt tháo gỡ những vướng mắc, rào cản kỹ thuật về xuất khẩu nông sản, nâng cao chất lượng kiểm soát an toàn thực phẩm, đồng thời đặt trọng tâm vào gỡ thẻ vàng IUU.
Đối với tài nguyên thiên nhiên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ưu tiên các giải pháp huy động nguồn lực tài chính từ đất, khoáng sản và tài nguyên khác cho phát triển.
Công tác dự báo, cảnh báo sớm về thiên tai tiếp tục được nâng cao chất lượng; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số trong phòng, chống thiên tai, cứu nạn cứu hộ.
Song song với đó, Bộ tập trung đẩy mạnh giải ngân các dự án đầu tư công trọng điểm, bảo đảm thủ tục pháp lý, hiệu quả, chất lượng, phát huy hiệu quả các dự án đầu tư công của ngành đối với phát triển chung của đất nước…
![]() |
![]() |
Mekong ASEAN: Năm 2025, xuất khẩu nông - lâm - thủy sản mang về kim ngạch kỷ lục. Xin Thứ trưởng chia sẻ những dư địa, cơ hội và động lực mới mà ngành có thể tận dụng để duy trì và mở rộng đà tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới?
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Năm 2025, bất chấp khó khăn từ thị trường quốc tế, nông lâm thủy sản vẫn mang về kim ngạch xuất khẩu cao nhất lịch sử, điều này cho thấy dư địa tăng trưởng xuất khẩu của ngành còn lớn, đặc biệt khi Việt Nam chuẩn hóa sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cấp hạ tầng để phục vụ sản xuất, chế biến và xuất khẩu.
Nhìn vào câu chuyện phát triển hiện tại, tôi cho rằng có thể nhắc đến 4 động lực mới cho tăng trưởng xuất khẩu thời gian tới.
Thứ nhất, Chính phủ có chính sách mạnh mẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân; ưu tiên đầu tư công lớn về giao thông vận tải, đây sẽ là nền tảng giảm chi phí logistics và tăng sức cạnh tranh của nông sản.
Thứ hai, việc chuyển dịch và định hình lại chuỗi cung ứng toàn cầu tạo điều kiện cho các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam. Do đó, việc nỗ lực đẩy mạnh sản xuất bền vững, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế sẽ giúp duy trì tín nhiệm của các nhà nhập khẩu.
Thứ ba, chính sách đối ngoại – thương mại thân thiện, tăng cường đàm phán, ký kết nghị định thư mở cửa thị trường thời gian qua của Việt Nam là cơ hội để các mặt hàng nông lâm thủy sản thúc đẩy xuất khẩu.
Thứ tư, 17 hiệp định thương mại tự do đã ký kết mở ra tiềm năng xuất khẩu không chỉ sang thị trường truyền thống mà còn tới các thị trường ngách như ASEAN, Tây Á, châu Phi. Đặc biệt, một số thị trường sẵn sàng hợp tác sản xuất với Việt Nam nhằm đảm bảo an ninh lương thực như Trung Đông, Mỹ Latin.
Mekong ASEAN: Thứ trưởng nhận định ra sao về tiềm năng hợp tác và xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản sang ASEAN trong bối cảnh hiện nay?
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Trong những năm qua, Việt Nam và ASEAN đã có những hoạt động hợp tác sâu rộng như xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đàm phán thành công Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA); ký kết thỏa thuận song phương với các nước thành viên.
Nhờ đó, xuất khẩu nông lâm thủy sản vào ASEAN có sự tăng trưởng đáng kể với các mặt hàng quen thuộc như gạo, cà phê, thủy sản, gỗ, rau quả, cao su, phân bón và đặc biệt đạt kim ngạch kỷ lục vào năm 2024 với 7,1 tỷ USD.
Với kết quả nổi bật đó, tôi cho rằng, nông lâm thủy sản của Việt Nam vẫn còn nhiều triển vọng hợp tác, xuất khẩu với khu vực Đông Nam Á.
Theo đó, ASEAN có vị trí địa lý gần sẽ giúp giảm chi phí vận chuyển, kho bãi cho doanh nghiệp. Chính sách hợp tác thương mại thuận lợi như ATIGA, các hiệp định song phương sẽ giảm rủi ro phụ thuộc vào các thị trường ngoài khối.
ASEAN còn là khu vực có văn hóa thống nhất trong đa dạng. Mỗi nước có những phong tục, tập quán riêng nhưng đều sở hữu nền tảng văn hóa nông nghiệp, tạo nên lối sống gần gũi, tương đồng. Đây cũng là khu vực có quy mô dân số lớn thứ 3 trên thế giới với khoảng 790 triệu người vào năm 2050.
Điều này sẽ mở ra cơ hội hợp tác giữa doanh nghiệp khu vực, đặc biệt trong vấn đề xây dựng thương hiệu chung để đáp ứng nhu cầu lương thực tại ASEAN và xuất khẩu ra thế giới.
![]() |
Mekong ASEAN: Bước sang giai đoạn mới, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong câu chuyện phát triển của ngành nông nghiệp và môi trường?
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Khu vực kinh tế tư nhân không chỉ dẫn dắt đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ mà còn tham gia sâu vào chuỗi giá trị nông nghiệp, từ cung ứng vật tư đầu vào đến sản xuất, chế biến, logistics, tiêu thụ và xuất khẩu.
Khu vực này còn huy động nguồn lực xã hội (vốn, nhân lực, quản trị), bổ sung cho đầu tư công, góp phần nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam, gắn với tiêu chuẩn xanh và bền vững.
Cho đến hiện tại, Việt Nam có 18.900 doanh nghiệp nông nghiệp, là lực lượng nòng cốt trong chuỗi giá trị nông sản. Một số tập đoàn lớn đã ứng dụng công nghệ cao như Nafoods, TH, Dabaco Việt Nam, Masan, Lavifood, Xuất khẩu Đồng Giao, Thương mại và Đầu tư Biển Đông...
Để khu vực kinh tế tư nhân phát huy hết tối đa năng lực, thời gian tới, ngành sẽ tập trung việc hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi, nhất là sau khi Nghị quyết 68/NQ-TW về phát triển kinh tế tư nhân của Bộ Chính trị được ban hành.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Tài chính hoàn thiện Nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Song song đó, ngành sẽ chú trọng vào việc thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, phát triển những doanh nghiệp đầu tàu sản xuất – chế biến – tiêu thụ, nâng cao vai trò của hợp tác kiểu mới, gắn nông dân với nông nghiệp.
Tín dụng xanh được đẩy mạnh, tăng cường các ưu đãi cho nông nghiệp sinh thái – tuần hoàn, gia tăng chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xanh, mở rộng thị trường và nâng cao thương hiệu nông sản Việt.
Trong công tác thủ tục hành chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục cải cách, đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu, số hóa hồ sơ và áp dụng công nghệ số vào quản lý nhằm giảm thiểu tối đa thời gian cho doanh nghiệp.
![]() |
Mekong ASEAN: Trong bối cảnh yêu cầu tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, khoa học – công nghệ sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc tạo đột phá về năng suất, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của ngành thưa Thứ trưởng?
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến: Đến năm 2030, ngành đặt mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 3,5 - 4% trở lên. Trong đó, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng chung ở mức trên 50%; thu nhập dân cư nông thôn cao hơn 2,5 - 3 lần so với năm 2020...
Trên cơ sở mục tiêu trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là một trong những đột phá chiến lược, góp phần vào tăng trưởng toàn ngành thông qua các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ.
Do đó, ngành đã xác lập 4 định hướng trọng tâm cho giai đoạn phát triển tới. Cụ thể, ngành tập trung nâng cao trình độ chế biến, sản xuất gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ cao, tự động hóa; phát triển hệ thống chế biến gắn với vùng nguyên liệu và nhu cầu thị trường. Đồng thời, chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, thúc đẩy cơ giới hóa đồng bộ, tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng.
Ngành hướng tới chuyển giao, nhân rộng ứng dụng canh tác bền vững, các giải pháp khoa học công nghệ nhằm giảm chi phí đầu vào, từ đó nâng cao hiệu quả, thu nhập cho người sản xuất.
Viễn thám và trí tuệ nhân tạo được đưa vào sản xuất như quản lý rừng trồng, cơ sở nuôi; phân tích dữ liệu thời tiết, đất đai, sâu bệnh; sử dụng tưới tiêu thông minh; cảnh báo sớm hạn hán, xâm nhập mặn...
Bên cạnh đó, ngành sẽ hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu cơ bản, cập nhật đầy đủ thông tin sản xuất, thị trường, giúp công tác điều hành của Bộ và địa phương chính xác, kịp thời.
Cùng với việc triển khai đồng bộ, kịp thời có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tin rằng khoa học, công nghệ thực sự sẽ là động lực mới cho tăng trưởng ngành nông nghiệp trong Kỷ nguyên vươn mình, thịnh vượng và giàu đẹp của dân tộc.
Mekong ASEAN: Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!