Chuẩn bị sẵn ‘gói’ ưu đãi cho các nhà đầu tư FDI có tính lan tỏa cao

FDI ĐẦU TƯ
12:25 - 17/09/2022
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng báo cáo tại Hội nghị.
Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng báo cáo tại Hội nghị.
0:00 / 0:00
0:00
Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, Việt Nam cần chuẩn bị sẵn các điều kiện cần thiết để đón làn sóng đầu tư nước ngoài trong tình hình mới theo hướng thu hút có chọn lọc, sẽ có các "gói" ưu đãi riêng cho các nhà đầu tư chiến lược.

Tại Hội nghị của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với chủ đề "Vượt qua thách thức, nắm bắt cơ hội, hợp tác phát triển", sáng 17/9, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng nhận định, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, diễn biến mới, chưa từng có tiền lệ, rất khó dự báo hoặc không thể dự báo với những rủi ro, bất định ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu.

Cụ thể, xung đột địa chính trị làm suy giảm tăng trưởng, lạm phát tăng cao và các chính sách tiền tệ thắt chặt. Cùng với đó, sự đứt gãy chuỗi cung ứng sản xuất và dịch vụ logistics, giá xăng dầu tăng gây khó khăn cho sản xuất. Thiên tai, lũ lụt, hạn hán và nguy cơ mất ổn định an ninh năng lượng, lương thực cũng đe dọa sự phát triển ổn định của các quốc gia.

Đối với tình hình trong nước, Bộ trưởng chỉ ra các khó khăn thách thức hiện hữu đến từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao, tình trạng thiếu hụt nguồn cung lao động cục bộ tại một số ngành và địa phương, cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ. Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế, tồn tại trong khâu thực thi chính sách, việc triển khai còn thiếu thống nhất ở một số khâu gây khó khăn cho doanh nghiệp.

“Tất cả những yếu tố này đều là những khó khăn chung cho quá trình phục hồi và phát triển nền kinh tế Việt Nam, trong đó có khu vực đầu tư nước ngoài”, Bộ trưởng Dũng nói.

Việt Nam được đánh giá là điểm đến đầu tư hấp dẫn và an toàn

Trong những năm qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được coi là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác.

Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng

“Mặc dù có những khó khăn, thách thức nhưng nhiều tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế đã và đang tìm kiếm các địa điểm đầu tư nhằm đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Trong đó, Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là điểm đến đầu tư hấp dẫn và an toàn”.

Liệt kê các điểm thuận lợi từ môi trường đầu tư của Việt Nam, Bộ trưởng Dũng cho biết, kinh tế chính trị xã hội của Việt Nam ổn định, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao khi thực hiện thành công mục tiêu kép vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi và phát triển kinh tế.

Trong giai đoạn khó khăn nhất của dịch bệnh Covid-19 trong năm 2020 - 2021, Việt Nam vẫn là một trong số ít nền kinh tế tăng trưởng dương, kinh tế vĩ mô được duy trì ổn định, lạm phát kiểm soát ở mức thấp. Riêng trong 8 tháng đầu năm 2022, tình hình phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất lớn đã quay trở lại hoạt động với 100% công suất và mở rộng đầu tư.

Cùng với các tín hiệu khả quan nêu trên, vị trí của Việt Nam trên hàng loạt các bảng xếp hạng đã có những bước tiến đáng kể, nhiều tổ chức, chuyên gia uy tín quốc tế đánh giá cao kết quả và triển vọng phát triển kinh tế, nâng hạng tín nhiệm và dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam.

Chỉ số phục hồi Covid-19 của Nikkei xếp Việt Nam đứng thứ 2 trên thế giới, tổ chức như Moody's và S&P đều xếp hạng tín nhiệm dài hạn của Việt Nam ở mức "ổn định" và "tích cực".

Thuận lợi tiếp theo được Bộ trưởng Dũng chỉ ra là nền kinh tế có độ mở lớn, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Theo đó, Việt Nam đã tham gia và ký kết 15 Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có tất cả các nền kinh tế lớn nhất, phát triển nhất trên thế giới.

Nguồn nhân lực dồi dào, cơ cấu lao động trẻ và có chi phí cạnh tranh cũng là một trong những điểm hấp dẫn đầu tư của Việt Nam. Ngoài ra, thị trường nội địa với gần 100 triệu dân giàu tiềm năng và đang tăng nhanh về sức mua. Tầng lớp trung lưu chiếm 15% dân số và theo Ngân hàng thế giới, sẽ đạt 50% vào năm 2030.

Việt Nam đang tiếp tục triển khai nhiều biện pháp hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp tiêu chuẩn quốc tế và các cam kết tại các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam tham gia.

Cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư, tiếp tục hoàn thiện với các kế hoạch đầu tư phục vụ phục hồi phát triển kinh tế xã hội, trong đó sẽ tập trung đầu tư phát triển nhiều công trình hạ tầng quan trọng như: đường cao tốc, các trục ven biển, sân bay, cảng biển.

Việt Nam cũng vị trí địa lý chiến lược, trung tâm trong khu vực, chỉ từ 3-5 giờ bay có thể kết nối với các nền kinh tế năng động trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore.

Ngoài ra, còn có sự quan tâm, đồng hành và quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị nhằm tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng, thuận lợi hơn.

Thu hút FDI đứng trước nhiều cơ hội và thách thức.

Thu hút FDI đứng trước nhiều cơ hội và thách thức.

Giải pháp nắm bắt cơ hội hợp tác đầu tư có chọn lọc

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, Việt Nam đang ưu tiên thu hút 3 nhóm dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển; dự án có sự lan tỏa, cam kết hợp tác, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị; dự án thúc đẩy kinh tế số và đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững kinh tế xã hội của Việt Nam.

Với chủ trương thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu, Bộ KH&ĐT đã đưa ra các kiến nghị giải pháp chiến lược.

Đối với Chính phủ, các Bộ/ngành, địa phương, trong ngắn hạn, cần chủ động tiếp cận, nắm bắt vướng mắc, khó khăn của các nhà đầu tư thông qua việc đồng hành cùng doanh nghiệp để xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi.

Cùng với đó là xác định một số lĩnh vực có khả năng thúc đẩy nhanh dịch chuyển cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ, bổ sung cho những phân đoạn Việt Nam chưa thể đáp ứng trong chuỗi cung ứng để ưu tiên thu hút. Tập trung giải quyết tình trạng khan hiếm lao động cục bộ ở một số ngành, một số khu vực đồng thời đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề cho người lao động.

Bộ trưởng KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng

“Việt Nam cần chuẩn bị sẵn các điều kiện cần thiết để đón làn sóng đầu tư, gồm chuẩn bị về mặt bằng sạch, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, năng lượng, nguồn cung lao động có tay nghề, nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp trong nước để tham gia chuỗi giá trị và chuẩn bị sẵn các ‘gói’ ưu đãi, hỗ trợ đầu tư để đàm phán với các nhà đầu tư chiến lược có tính lan tỏa cao”.

Trong dài hạn, Chính phủ, các Bộ/ngành, địa phương cần tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Các chính sách cần lưu ý hướng tới xu thế, kinh nghiệm tốt của quốc tế phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam để áp dụng có chọn lọc.

“Đặc biệt, quá trình thu hút đầu tư cần tăng cường năng lực nội tại của doanh nghiệp trong nước, tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung một số ngành, nghề cụ thể, nhằm thúc đẩy kết nối với doanh nghiệp nước ngoài để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Gia tăng giá trị sản xuất nội địa, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, chủ động hội nhập quốc tế, nắm bắt và đón đầu các xu hướng kinh doanh mới, xu hướng thị trường mới”, Bộ trưởng Dũng nhấn mạnh.

Từ đó, Bộ trưởng Dũng cho rằng, Việt Nam cần điều chỉnh hoạt động xúc tiến đầu tư theo hướng thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, mang tầm quốc gia, thể hiện tính liên ngành, liên vùng, gắn với thị trường, đối tác đầu tư và dự án cụ thể.

Đối với các hiệp hội doanh nghiệp, theo Bộ trưởng Kh&ĐT, công tác chủ động nghiên cứu, đánh giá thách thức, thời cơ, xu hướng kinh doanh, xu hướng thị trường mới đóng vai trò quan trọng.

Cùng với đó, các hiệp hội cần thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp hội viên, đại diện và tăng cường quyền lợi cho các hội viên của mình trong các quan hệ trong nước và quốc tế.

Làm cầu nối, vận động chính sách, duy trì đối thoại với Chính phủ và quan hệ với các cơ quan, tổ chức trong nước, nước ngoài về luật và chính sách điều chỉnh hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp.

Các hiệp hội doanh nghiệp tiếp tục thể hiện vai trò cầu nối giữa Chính phủ và các doanh nghiệp thành viên để kịp thời phản ánh các vướng mắc, khó khăn trong quá trình hoạt động đầu tư kinh doanh và tham vấn, kiến nghị bổ sung, sửa đổi các chính sách, pháp luật phù hợp với tình hình thực tiễn.

Các doanh nghiệp cũng cần phải nắm bắt cơ hội để tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tuân thủ pháp luật, luôn đổi mới công nghệ và mở rộng đầu tư. Quan tâm đến người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường.

Về vấn đề mời gọi các nhà đầu tư mới vào Việt Nam, trong quá trình tìm hiểu đầu tư, Bộ trưởng Dũng khuyến nghị các doanh nghiệp cần trao đổi, liên hệ kịp thời với các cơ quan quản lý về đầu tư tại Trung ương và địa phương để có được sự hỗ trợ, hướng dẫn và sớm có được quyết định đầu tư.

Bên cạnh đó là chủ động tận dụng các cơ hội và lợi thế đem lại từ các FTA mới mà Việt Nam đã tham gia. Chú trọng việc hỗ trợ nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp Việt Nam để tăng cường sự liên kết, hợp tác, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiến tiến, tri thức mới. Qua đó, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

66% doanh nghiệp FDI dự kiến mở rộng đầu tư trong năm 2023

Theo khảo sát nhanh do Bộ KH&ĐT phối hợp với Liên minh Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam (VBF) thực hiện trong tháng 9/2022, cho thấy những thông tin tích cực về hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

(1) Trên 90% doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính ở mức trung bình và cao. Phần lớn các doanh nghiệp đều bày tỏ sự lạc quan, tin tưởng đối với Việt Nam và cam kết tiếp tục mở rộng đầu tư, kinh doanh lâu dài. Trong đó khoảng 66% doanh nghiệp dự kiến mở rộng đầu tư trong năm 2023.

(2) 76% doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của các chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh của Chính phủ (như về miễn, giảm thuế, phí, bình ổn giá, giấy phép lao động, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách hỗ trợ người lao động, hỗ trợ tiêm vaccine Covid) ở mức trung bình và cao. Trong đó, các chính sách được đánh giá hiệu quả nhất là: Miễn, giảm thuế VAT; chính sách về bình ổn giá xăng dầu; cải thiện thủ tục cấp giấy phép lao động và thông quan; chính sách xuất nhập khẩu và hỗ trợ người lao động…

Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho sự ủng hộ, tin tưởng của cộng đồng doanh nghiệp vào những quyết sách, giải pháp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong thời gian qua.

Tin liên quan

Đọc tiếp