![]() |
![]() |
Một sản phẩm điện tử có thể được lắp ráp tại Việt Nam, kiểm tra bởi kỹ sư Việt Nam và xuất khẩu từ cảng biển Việt Nam. Nhưng bản thiết kế, linh kiện chủ chốt và quyền quyết định thế hệ sản phẩm tiếp theo vẫn có thể nằm ở nước ngoài. Khoảng cách giữa một cứ điểm sản xuất lớn và một nền công nghiệp làm chủ công nghệ nằm trong những phần việc ấy.
Xuất khẩu điện tử, máy tính và linh kiện năm 2025 đạt 107,7 tỷ USD, tăng 48,4% so với năm trước, lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD và chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Như vậy, gần một phần tư giá trị hàng hóa Việt Nam xuất ra thế giới thuộc nhóm này. Quy mô ấy cho thấy Việt Nam đã trở thành một địa điểm sản xuất quan trọng trong mạng lưới cung ứng quốc tế, tạo nền tảng để tích lũy nhân lực, kinh nghiệm vận hành và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn công nghiệp.
Tuy nhiên, từ quy mô sản xuất đến năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước vẫn còn một khoảng cách cần làm rõ. Trong 9 tháng đầu năm 2026, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, đạt 350,41 tỷ USD. Khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, chiếm 19,3%. Những con số phản ánh vai trò lớn của FDI trong xuất khẩu, đồng thời đặt ra câu hỏi: doanh nghiệp nội địa đã tham gia và hưởng lợi đến đâu từ mạng lưới sản xuất quốc tế hiện diện tại Việt Nam?
![]() |
![]() |
Bước chuyển từ tham gia sản xuất sang làm chủ công nghệ đang được đặt trên một cam kết ngân sách dài hạn. Kế hoạch tài chính quốc gia giai đoạn 2026–2030 xác định tổng chi ngân sách Nhà nước khoảng 21,2 triệu tỷ đồng, đồng thời yêu cầu dành tối thiểu 3% tổng chi hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng dần theo yêu cầu phát triển. Tính trên quy mô chi dự kiến của cả giai đoạn, mức sàn này tương đương khoảng 636.000 tỷ đồng, bình quân 127.200 tỷ đồng mỗi năm. Đây là phép tính từ kế hoạch tổng chi và tỷ lệ tối thiểu, chưa phải tổng vốn đã được phân bổ cho từng chương trình, dự án; mức chi thực tế còn phụ thuộc ngân sách được quyết định và thực hiện hằng năm.
Ý nghĩa của cam kết này nằm ở khả năng duy trì đầu tư đủ lâu để công nghệ đi từ nghiên cứu đến ứng dụng. Phòng thí nghiệm cần kinh phí vận hành, nhóm nghiên cứu cần thời gian hoàn thiện sản phẩm, doanh nghiệp cần thử nghiệm và kiểm định để đáp ứng yêu cầu khách hàng. Kế hoạch ngân sách 5 năm tạo cơ sở cho quá trình ấy và giúp doanh nghiệp chủ động đầu tư cùng Nhà nước, nhưng cần cơ chế phân bổ bảo đảm kinh phí theo tiến độ từng nhiệm vụ.
Mức sàn khoảng 636.000 tỷ đồng tính từ kế hoạch bao trùm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Vì vậy, cần làm rõ phần nguồn lực trực tiếp dành cho nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm và đưa sản phẩm ra thị trường. Bước chuyển về công nghệ phụ thuộc vào cách phân bổ ngân sách để hình thành những năng lực này.
![]() |
Robot giao hàng tự động. Ảnh: Công Luật - TTXVN
Một hướng đáng ưu tiên là hạ tầng dùng chung: phòng thí nghiệm, thiết bị kiểm định và hạ tầng tính toán vốn vượt khả năng đầu tư riêng của nhiều doanh nghiệp. Được tiếp cận với chi phí hợp lý, doanh nghiệp có thể giảm chi phí phát triển sản phẩm và tham gia những công đoạn đòi hỏi kỹ thuật cao hơn. Hiệu quả ấy cần cả thiết bị phù hợp, đội ngũ vận hành có năng lực và cơ chế tiếp cận thuận tiện.
Ngân sách cũng cần khuyến khích doanh nghiệp cùng bỏ vốn và nhân sự. Có thể xem xét đồng tài trợ cho các dự án có mục tiêu kỹ thuật, vốn đối ứng và nhu cầu ứng dụng rõ ràng; cấp kinh phí theo tiến độ từ mẫu thử, kiểm định đến ứng dụng thực tế. Kết quả từng bước là căn cứ để tiếp tục, điều chỉnh hoặc dừng hỗ trợ, đồng thời gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với quá trình phát triển công nghệ.
Hiệu quả đầu tư sẽ thể hiện ở những kết quả cụ thể: doanh nghiệp làm chủ thêm công nghệ, sản phẩm tìm được khách hàng, nhà cung ứng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và nguồn vốn tư nhân được huy động cùng ngân sách. Giá trị lâu dài nằm ở khả năng tiếp tục phát triển sau khi hỗ trợ kết thúc: đội ngũ nghiên cứu được duy trì, công nghệ được cải tiến và doanh thu từ sản phẩm mới được đầu tư trở lại cho nghiên cứu. Quá trình tích lũy ấy giúp doanh nghiệp Việt có cơ sở đảm nhận những phần việc phức tạp hơn và nâng giá trị đóng góp trong chuỗi sản xuất.
![]() |
Chia sẻ với Mekong ASEAN, ông Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) bày tỏ trăn trở khi nhiều doanh nghiệp Việt vẫn đảm nhận những công đoạn ngắn hoặc một phần nhỏ trong chuỗi giá trị. Đây cũng là khoảng cách mà nguồn lực đầu tư cho giai đoạn mới cần góp phần thu hẹp. Với mỗi ngành công nghệ cao, yêu cầu về vốn, nhân lực và nền tảng kỹ thuật khác nhau. Vì vậy, bài toán phân bổ nguồn lực phải bắt đầu từ việc xác định những công đoạn Việt Nam có cơ hội phát triển, những năng lực doanh nghiệp còn thiếu và điều kiện cần bổ sung để tiến lên.
Để nâng vị thế trong chuỗi giá trị, Việt Nam cần xác định những công đoạn có thể tập trung nguồn lực và xây dựng năng lực đủ sâu. Ngành bán dẫn cho thấy rõ yêu cầu này. Theo ông Võ Xuân Hoài, chuỗi sản xuất một con chip gồm nhiều công đoạn phức tạp, với sự tham gia của nhiều quốc gia và tập đoàn. Hướng đi phù hợp là hợp tác với các đối tác quốc tế, lựa chọn công đoạn có khả năng tham gia và từng bước làm chủ. Ông lưu ý đóng gói, kiểm thử tiên tiến cũng có thể mang lại giá trị gia tăng cao.
Điều đó mở ra một cách nhìn cụ thể hơn về nâng cấp công nghiệp: ngay trong công đoạn đã tham gia, doanh nghiệp có thể tạo bước tiến bằng khả năng xử lý những yêu cầu kỹ thuật phức tạp hơn, nâng độ chính xác và cải tiến quy trình. Chọn đúng mắt xích vì thế cần tính đến cả năng lực hiện có lẫn dư địa phát triển. Một công đoạn phù hợp phải tạo cơ hội để doanh nghiệp tích lũy kiến thức, chủ động giải quyết vấn đề và từng bước đảm nhận phần việc có giá trị cao hơn.
Theo số liệu ông Hoài dẫn, số doanh nghiệp bán dẫn hoạt động tại Việt Nam đã tăng từ khoảng 50 lên gần 100 sau ba năm. Đây là dấu hiệu hệ sinh thái mở rộng, song con số này bao gồm cả doanh nghiệp nước ngoài. Sự hiện diện của nhiều đối tác tạo thêm cơ hội tiếp cận khách hàng, tiêu chuẩn và công nghệ. Để tận dụng cơ hội ấy, doanh nghiệp Việt cần xác định rõ mình có thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ nào và phải nâng năng lực đến đâu để đáp ứng yêu cầu của đối tác. Từ đó, lựa chọn công đoạn mới trở thành một kế hoạch đầu tư cụ thể.
![]() |
Ông Võ Xuân Hoài, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC). Ảnh: NIC
Ông Hoài nhấn mạnh những điều kiện cần củng cố gồm điện sạch, ổn định; phòng thí nghiệm dùng chung; nhân lực trình độ cao và liên kết giữa doanh nghiệp với viện, trường. Đào tạo cần gắn với thực hành và nhu cầu công nghiệp. Những điều kiện này cần được tổ chức quanh các công đoạn ưu tiên. Chẳng hạn, nếu hướng tới đóng gói, kiểm thử tiên tiến, đầu tư phải giúp doanh nghiệp tiếp cận thiết bị phù hợp, đào tạo kỹ sư có khả năng vận hành và xử lý vấn đề, đồng thời kết nối nghiên cứu với yêu cầu sản xuất. Khi các yếu tố ấy bổ trợ cho nhau, doanh nghiệp mới có điều kiện đi từ tiếp nhận quy trình đến hiểu sâu, cải tiến và làm chủ quy trình.
Hạ tầng dùng chung có vai trò quan trọng trong quá trình đó. Một cơ sở đo kiểm có thể giúp nhiều nhà cung ứng tiếp cận thiết bị vượt quá khả năng đầu tư riêng; đội ngũ chuyên gia có thể hỗ trợ giải quyết những trở ngại kỹ thuật mà từng doanh nghiệp chưa đủ sức xử lý. Hiệu quả cần được nhìn ở khả năng doanh nghiệp sử dụng hạ tầng để hoàn thiện sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn và phát triển năng lực mới. Đây cũng là cơ sở để xác định nên đầu tư thiết bị gì, bố trí chuyên gia nào và tổ chức dịch vụ hỗ trợ ra sao.
Ở phạm vi đổi mới sáng tạo rộng hơn, ông Hoài đề xuất cơ chế Nhà nước cùng chia sẻ rủi ro để huy động vốn tư nhân. Đặt vào bài toán nâng cấp công nghệ, hỗ trợ công có thể giúp doanh nghiệp vượt qua những khâu tốn kém như thử nghiệm và hoàn thiện sản phẩm. Doanh nghiệp cần đồng thời cam kết vốn, nhân sự và thời gian để theo đuổi công đoạn đã lựa chọn. Sự kết hợp ấy giúp nguồn lực tập trung vào một lộ trình phát triển có mục tiêu và trách nhiệm rõ ràng.
Lộ trình này cũng phải tính đến sự thay đổi của thị trường. Theo ông Hoài, doanh nghiệp cần chuẩn bị cho nhu cầu tương lai của khách hàng và chủ động đầu tư cho đổi mới sáng tạo. Vì vậy, trước khi đầu tư, doanh nghiệp cần làm rõ nhóm khách hàng muốn phục vụ, tiêu chuẩn sắp phải đáp ứng, năng lực còn thiếu và thời gian cần để hoàn thiện. Những câu trả lời ấy giúp xác định phần có thể tự làm, phần cần hợp tác và nguồn lực cần huy động.
Chọn đúng mắt xích chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp xây dựng được năng lực đủ sâu để giữ vững vị trí tại đó. Một đơn hàng tạo cơ hội học hỏi; kiến thức tích lũy giúp cải tiến quy trình; quy trình được làm chủ mở đường cho những sản phẩm và đơn hàng phức tạp hơn. Nguồn lực đầu tư cần giúp quá trình ấy tiếp diễn, để doanh nghiệp Việt trở thành đối tác được lựa chọn vì năng lực kỹ thuật và khả năng giải quyết vấn đề. Đó là nền tảng để từng mắt xích do doanh nghiệp Việt đảm nhận đóng góp nhiều giá trị hơn vào toàn bộ chuỗi sản xuất.
![]() |
Robot hình người do VinRobotics, công ty con của Tập đoàn Vingroup phát triển, được giới thiệu tại gian hàng riêng và trong khu trưng bày của Bộ Khoa học và Công nghệ, thu hút sự chú ý của đông đảo khách tham quan. Nguồn. Congthuong.vn
![]() |
Theo TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, doanh nghiệp “lớn mạnh” cần có khả năng làm chủ công nghệ, năng lực sáng tạo và thương hiệu được thị trường đón nhận. Sự trưởng thành ấy đòi hỏi nỗ lực tự thân của doanh nghiệp, cùng môi trường cạnh tranh lành mạnh và những hỗ trợ thiết thực từ Nhà nước.
Trong chính sách hỗ trợ, ông nhấn mạnh việc phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ và nâng cao chất lượng nhân lực. Riêng với hỗ trợ tài chính, nguyên tắc ông đề xuất là “hỗ trợ người thắng cuộc” thông qua kết quả thị trường, thay vì “lựa chọn người thắng cuộc”. Điều này đặt trọng tâm vào năng lực đã được kiểm chứng của doanh nghiệp, đồng thời yêu cầu tôn trọng cạnh tranh và các cam kết quốc tế.
Từ định hướng ấy, bài toán phân bổ nguồn lực giai đoạn 2026–2030 cần được nhìn từ những trở ngại cụ thể trên hành trình phát triển công nghệ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có khách hàng nhưng chưa đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ cần sự hỗ trợ khác với một nhóm đang nghiên cứu công nghệ chưa có sản phẩm thương mại. Xác định đúng nhu cầu giúp lựa chọn công cụ phù hợp, từ tiếp cận thiết bị thử nghiệm, hợp tác nghiên cứu đến hoàn thiện quy trình sản xuất.
Chẳng hạn, một nhà cung ứng đã chế tạo được linh kiện nhưng chưa đạt yêu cầu về độ bền hoặc tỷ lệ lỗi. Nếu được tiếp cận phòng thử nghiệm và đội ngũ nghiên cứu phù hợp, doanh nghiệp có thể xác định nguyên nhân, cải tiến thiết kế và ổn định chất lượng. Khi đó, hiệu quả hỗ trợ có thể được theo dõi qua những kết quả cụ thể: mẫu thử đạt tiêu chuẩn, quy trình sản xuất ổn định và sản phẩm được khách hàng chấp nhận. Đơn hàng tiếp theo vừa kiểm chứng năng lực, vừa tạo nguồn thu để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư.
![]() |
TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh.
Đó là một hướng triển khai có thể xem xét đối với các dự án gần thị trường. Với nghiên cứu dài hạn, cần có cách đánh giá phù hợp hơn: tiến bộ về kỹ thuật, năng lực của đội ngũ, khả năng ứng dụng và những điều kiện cần để phát triển tiếp. Một công nghệ mới có thể chưa tạo ra doanh thu ngay, nhưng từng giai đoạn đầu tư vẫn cần cho thấy kết quả đủ rõ để quyết định tiếp tục hỗ trợ hoặc điều chỉnh hướng nghiên cứu. Cơ chế ấy giúp duy trì nguồn lực cho những nhiệm vụ có triển vọng, đồng thời đặt trách nhiệm giải trình trong suốt quá trình thực hiện.
Giá trị của đầu tư còn nằm ở khả năng mở ra những bước phát triển tiếp theo. Khi làm chủ một quy trình, doanh nghiệp có cơ sở cải tiến nhiều dòng sản phẩm. Khi xây dựng được đội ngũ kỹ sư, doanh nghiệp có thể chủ động giải quyết những yêu cầu mới của khách hàng. Khi có đơn hàng ổn định, doanh nghiệp có điều kiện duy trì nghiên cứu và kéo các nhà cung ứng cùng nâng cấp. Năng lực hình thành từ một dự án vì thế có thể tiếp tục sinh giá trị qua nhiều chu kỳ sản xuất.
Bởi vậy, kỳ vọng đối với giai đoạn 2026–2030 cần đi đến một câu hỏi cụ thể: sau những khoản đầu tư ấy, doanh nghiệp Việt Nam sẽ làm chủ thêm được những gì? Đó có thể là một thiết kế, một quy trình công nghệ, một đội ngũ kỹ sư đủ sức giải quyết bài toán khó, hay khả năng phát triển sản phẩm tiếp theo bằng chính năng lực của mình. Những kết quả ấy sẽ quyết định doanh nghiệp có thể đảm nhận phần việc nào và giữ lại bao nhiêu giá trị trong chuỗi sản xuất.
Một chương trình hỗ trợ có thể kết thúc, nhưng đội ngũ kỹ sư, bí quyết công nghệ và khả năng phát triển sản phẩm phải tiếp tục được bồi đắp. Khi doanh nghiệp dùng những năng lực ấy để giành đơn hàng mới, tái đầu tư cho nghiên cứu và đưa các nhà cung ứng trong nước cùng tiến lên, nguồn lực ngân sách đã tạo được sức lan tỏa. Đó cũng là thước đo có sức nặng cho bước chuyển từ “công xưởng gia công” đến làm chủ công nghệ: doanh nghiệp Việt Nam ngày càng có khả năng quyết định giá trị của sản phẩm bằng tri thức và năng lực của chính mình.
![]() |