![]() |
Tròn một năm kể từ khi Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị được ban hành, khu vực kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến rõ nét, thể hiện sự thay đổi từ nhận thức đến hành động trong hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp. Không chỉ dừng lại ở định hướng chiến lược, các chính sách cụ thể hóa Nghị quyết đã từng bước đi vào thực tiễn, tạo ra những tín hiệu phục hồi và tăng trưởng.
Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025, cả nước có 195.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước; 102.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động lên 297.400 doanh nghiệp, tăng 27,4% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân mỗi tháng, cả nước có 24.800 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2025 đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8% so với năm trước.
Tính riêng 4 tháng đầu năm 2026, cả nước tiếp tục có thêm 77,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký gần 785,4 nghìn tỷ đồng và 356,9 nghìn lao động, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng 60,1% về vốn và 50,7% về số doanh nghiệp thành lập mới phản ánh rõ xu hướng gia nhập thị trường mạnh mẽ của khu vực tư nhân. Quy mô vốn bình quân đạt 10,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, tăng 6,2% so với cùng kỳ.
Không chỉ có doanh nghiệp thành lập mới, làn sóng doanh nghiệp quay trở lại hoạt động cũng diễn ra tích cực. Trong 4 tháng đầu năm 2026, có 41,6 nghìn doanh nghiệp tái gia nhập thị trường, tăng 8,6% so với cùng kỳ, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động lên hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 32,8% so với cùng kỳ. Bình quân mỗi tháng từ đầu năm có gần 29,9 nghìn doanh nghiệp tham gia thị trường, phản ánh xu hướng phục hồi của khu vực kinh tế tư nhân.
Trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, sự hiện diện của khu vực kinh tế tư nhân ngày càng nổi bật. Với đầu tư phát triển hạ tầng quốc gia, theo số liệu Bộ Tài chính, năm 2025, Việt Nam đạt cột mốc kỷ lục với 564 công trình, dự án trọng điểm được khởi công và khánh thành qua ba đợt chính, tổng vốn đầu tư hơn 5,14 triệu tỷ đồng. Nguồn vốn tư nhân chiếm ưu thế lớn với 3,84 triệu tỷ đồng, tương đương với chiếm 74,6% tổng nguồn vốn đầu tư.
![]() |
Tuy nhiên, điểm thay đổi lớn nhất Nghị quyết 68 mang lại không nằm ở con số, mà nằm ở tư duy phát triển. Nếu trước đây kinh tế tư nhân chỉ được nhìn nhận là một bộ phận của nền kinh tế, thì nay đã được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Chia sẻ với Mekong ASEAN, GS. Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nêu quan điểm đây không phải chỉ là sự thay đổi mang tính hình thức, mà là một bước ngoặt thể chế, kéo theo sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, từ Quốc hội đến Chính phủ, với các chính sách được ban hành nhanh và ngày càng cụ thể.
Từ Nghị quyết 68, khung chính sách đã được thiết kế theo hướng cởi mở và thực chất hơn, đặt ra nhiều giải pháp cụ thể nhằm cải thiện khả năng tiếp cận vốn, đất đai và các nguồn lực quan trọng khác của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về vốn, định hướng ưu tiên nguồn tín dụng thương mại cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), đi cùng với việc mở rộng các kênh tín dụng, đa dạng hóa hình thức bảo đảm và hỗ trợ lãi suất đã tạo ra kỳ vọng lớn cho cộng đồng doanh nghiệp.
Về đất đai, các chính sách ưu tiên bố trí quỹ đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đang được các địa phương triển khai, góp phần tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định sản xuất và mở rộng quy mô.
Đồng thời, các cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chi phí tuân thủ cũng đang được đẩy mạnh, hướng tới mục tiêu tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch và hiệu quả hơn.
Nhưng ở phía còn lại của nền kinh tế, bức tranh lại rất khác. Năm 2025 có gần 230.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường; 4 tháng đầu năm 2026 có gần 109.000 doanh nghiệp rút lui. Riêng trong tháng 4/2026, có đến 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% so với tháng trước và tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025. “Điều này cho thấy, một bộ phận doanh nghiệp đang giữ tâm lý thận trọng, phòng thủ nhiều hơn là mở rộng đầu tư,” GS. Trần Thọ Đạt nhận định.
Theo phân tích của GS. Trần Thọ Đạt, nguyên nhân cốt lõi của hiện tượng này nằm ở thể chế và niềm tin thị trường. Trước hết, khung pháp lý chưa thực sự đồng bộ và ổn định. Doanh nghiệp vẫn đối mặt với rủi ro, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, tài chính, làm gia tăng chi phí rủi ro và khiến nhiều quyết định đầu tư bị trì hoãn. Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh vẫn tiềm ẩn bất định trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động. Khi lợi nhuận kỳ vọng không đủ bù đắp rủi ro, dòng vốn có xu hướng chuyển sang trạng thái phòng thủ.
![]() |
GS. Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Ảnh: NEU.
Để khơi thông được dòng vốn tư nhân, GS. Trần Thọ Đạt cho rằng nên mở ra những không gian đầu tư đủ lớn, việc “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư” nên được triển khai mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là cải cách cơ chế đối tác công - tư (PPP), thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro minh bạch, bảo đảm tính ổn định của hợp đồng dài hạn và quyền tài sản của nhà đầu tư.
Song song đó, một trục chuyển đổi quan trọng là “tăng trưởng kép” - kết hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Chuyển đổi số giúp doanh nghiệp tối ưu hóa sản xuất, giảm chi phí và nâng cao năng suất. Trong khi đó, chuyển đổi xanh giúp doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là ESG. Vấn đề là hiện nay phần lớn doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu nguồn lực để thực hiện chuyển đổi. Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ đủ mạnh để bộ phận doanh nghiệp này không bị tụt lại phía sau, vị chuyên gia này đề xuất.
Sau một năm, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã hoàn thành vai trò “mở đường” và giai đoạn tới là giải bài toán “khơi dòng”. Vấn đề hiện nay là cách thức giải phóng và chuyển hóa nguồn lực tư nhân thành động lực tăng trưởng. Ở chiều ngược lại, chính sách mới chỉ là điều kiện cần, nhưng nội lực doanh nghiệp mới là điều kiện quyết định. Nghị quyết số 68-NQ/TW mở ra cơ hội lớn hơn, song doanh nghiệp cũng cần thay đổi tư duy, từ "phòng thủ" sang "chủ động", từ ngắn hạn sang dài hạn.
“Hiệu quả của Nghị quyết số 68-NQ/TW được đánh giá ở một thước đo cụ thể: dòng vốn tư nhân có thực sự chảy mạnh vào sản xuất, hạ tầng và đổi mới sáng tạo hay không. Đó không đơn thuần là một hiện tượng kinh tế, mà còn là câu chuyện về niềm tin và động lực phát triển của một quốc gia,” GD. Trần Thọ Đạt nhận định.
Tăng trưởng kinh tế hai con số trong bối cảnh nhiều biến động là một thách thức cực đại, nhưng cũng là cơ hội để xác định vị thế của Việt Nam. Khi quyết tâm chính trị được cụ thể hóa bằng những cải cách thực chất, và khi nội lực của mỗi doanh nghiệp, mỗi người dân được khơi thông, con số tăng trưởng 10% sẽ không còn là khát vọng mà có nhiều cơ sở và nền tảng để trở thành hiện thực.