![]() |
Báo cáo Đánh giá Kinh tế Việt Nam công bố tháng 9/2026 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo kinh tế Việt Nam tăng 7,8% năm 2026 và 7,6% năm 2027. Để duy trì đà tăng trưởng ấy trong nhiều năm và hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam sẽ cần nguồn vốn lớn cho đầu tư phát triển, từ hạ tầng, năng lượng đến đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất.
Quy mô đầu tư đặt ra câu hỏi không chỉ về khả năng huy động vốn, mà còn về cách phân bổ nguồn lực để tạo thêm năng suất và sức cạnh tranh. Làm thế nào để doanh nghiệp tiếp cận vốn dài hạn, đầu tư công khơi dậy thêm đầu tư tư nhân và khu vực doanh nghiệp trong nước nắm bắt tốt hơn cơ hội từ FDI?
Cuộc đối thoại của Mekong ASEAN với ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam, mang đến một góc nhìn về bài toán khơi thông các kênh vốn dài hạn, phát huy vai trò “vốn mồi” của đầu tư công để Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.
![]() |
Ảnh minh hoạ.
Mekong ASEAN: Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, đồng thời hướng tới trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Từ kinh nghiệm hợp tác với Việt Nam, ADB cho rằng đâu là những điểm nghẽn cần được ưu tiên tháo gỡ và đâu là những cải cách mang tính nền tảng để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và tạo dư địa cho tăng trưởng dài hạn?
Ông Bùi Minh Giáp: ADB đánh giá cao những thành tựu rất ấn tượng Việt Nam đã đạt được trong gần bốn thập kỷ qua. Từ một nền kinh tế thu nhập thấp, Việt Nam đã trở thành một trung tâm sản xuất và xuất khẩu quan trọng của khu vực, thu hút mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và cải thiện đáng kể mức sống của người dân. Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng cao trong nhiều năm tới và hướng tới mục tiêu quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển mạnh hơn từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào mở rộng vốn, lao động, tài nguyên và FDI sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới sáng tạo và hiệu quả quản lý và phân bổ nguồn lực.
Những điểm nghẽn cần ưu tiên tháo gỡ gồm chất lượng thực thi chính sách, thủ tục đầu tư còn phức tạp, tiếp cận đất đai và vốn, hạ tầng logistics, năng lượng, kỹ năng lao động, thị trường vốn còn chưa đủ sâu, và liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Đây là các điểm nghẽn ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và năng lực cạnh tranh.
ADB nhìn nhận tích cực các cải cách mà Việt Nam đang triển khai, bao gồm cải cách hành chính, phân cấp, cải thiện môi trường kinh doanh và các nghị quyết chiến lược định hướng cho những động lực tăng trưởng mới. Đây là tín hiệu rất quan trọng cho triển vọng trung và dài hạn.
Tuy nhiên, thách thức hiện nay là biến định hướng đúng thành những kết quả cụ thể, có thể đo lường được. Cải cách chỉ tạo tác động lớn khi được thực thi nhất quán, minh bạch, có trách nhiệm giải trình rõ ràng, và giúp doanh nghiệp, người lao động, nhà đầu tư cảm nhận được những lợi ích thiết thực như chi phí thấp hơn, rủi ro thấp hơn và cơ hội đầu tư dài hạn tốt hơn.
![]() |
Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam. Ảnh: Mekong ASEAN.
Mekong ASEAN: Để đạt được mục tiêu tăng trưởng mới, Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình dựa nhiều vào vốn và FDI sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước. Theo ADB, đâu là những đột phá chính sách quan trọng nhất để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và trở thành một động lực dẫn dắt tăng trưởng?
Ông Bùi Minh Giáp: Theo tôi, mục tiêu chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tín dụng và FDI sang mô hình dựa vào năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước không có nghĩa là giảm vai trò của FDI. FDI vẫn là một động lực quan trọng của tăng trưởng, xuất khẩu, việc làm và chuyển giao công nghệ. Vấn đề cốt lõi là làm thế nào để khu vực doanh nghiệp trong nước hấp thụ tốt hơn lợi ích từ FDI, được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và từng bước trở thành một động lực nội sinh mạnh hơn của nền kinh tế. Nói cách khác, như ADB khuyến nghị, Việt Nam cần chuyển từ tư duy “thu hút dự án FDI” sang “xây dựng hệ sinh thái quanh FDI”, trong đó doanh nghiệp Việt Nam cùng lớn lên với các tập đoàn quốc tế.
Có thể cân nhắc một số đột phá chính sách quan trọng.
![]() |
Ảnh toàn cảnh TPHCM. Nguồn Pexels
Thứ nhất, cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục, tăng tính dự đoán của chính sách, và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng để nguồn lực hướng tới các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nhất. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp hưởng lợi lớn hơn từ một môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch so với việc được nhận thêm ưu đãi.
Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cấp công nghệ, quản trị, kỹ năng lao động, tiêu chuẩn chất lượng, năng lực số và khả năng tuân thủ các yêu cầu thương mại quốc tế về truy xuất nguồn gốc, môi trường và dữ liệu. Trong môi trường thương mại mới, cạnh tranh không chỉ dựa vào chi phí thấp mà còn dựa vào khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và độ tin cậy.
Thứ ba, phát triển các kênh vốn dài hạn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân muốn đầu tư vào công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D), sản xuất xanh và mở rộng quy mô đều cần vốn dài hạn, không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng ngắn hạn.
Vì vậy, thị trường vốn, quỹ đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp minh bạch, bảo hiểm, quỹ hưu trí, cơ chế hợp tác theo phương thức đối tác công tư (PPP) và tài chính xanh cần được phát triển đồng bộ. Khi khu vực tư nhân trong nước mạnh hơn, tăng trưởng của Việt Nam sẽ bền vững, tự cường và ít phụ thuộc hơn vào các yếu tố bên ngoài.
![]() |
Ảnh minh họa
Mekong ASEAN: Nhu cầu đầu tư cho hạ tầng, năng lượng và chuyển đổi xanh ngày càng lớn. Làm thế nào để đầu tư công thực sự phát huy vai trò "vốn mồi", đồng thời khơi thông thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các kênh tài chính hỗn hợp nhằm tạo nên cấu trúc vốn cân bằng, bền vững cho nền kinh tế?
Ông Bùi Minh Giáp: Việt Nam sẽ cần một cấu trúc nguồn lực mạnh hơn để đáp ứng nhu cầu đầu tư rất lớn cho hạ tầng cứng và mềm, bao gồm năng lượng, chuyển đổi xanh, đô thị, logistics, hạ tầng số và nâng cấp năng lực sản xuất.
Theo tôi, đầu tư công vẫn có vai trò rất quan trọng, nhưng vấn đề không chỉ là giải ngân nhiều hơn. Điều quan trọng là đầu tư công phải được chuẩn bị tốt hơn, triển khai nhanh hơn, minh bạch hơn và tập trung vào các dự án có tác động lan tỏa lớn. Các lĩnh vực ưu tiên gồm hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, lưới điện, hạ tầng số, thích ứng khí hậu, giáo dục kỹ năng và y tế. Đây là các lĩnh vực vừa hỗ trợ tổng cầu ngắn hạn, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
![]() |
Đầu tư công hiệu quả cần đóng vai trò “vốn mồi”, tức là tạo nền tảng để khu vực tư nhân đầu tư nhiều hơn với chi phí thấp hơn và rủi ro thấp hơn. Vì vậy, cần đánh giá dự án không chỉ thông qua tỷ lệ giải ngân, mà dựa vào khả năng giảm chi phí logistics, cải thiện kết nối, bảo đảm năng lượng, mở rộng không gian phát triển vùng, tăng năng suất và kích hoạt thêm đầu tư tư nhân.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn các nguồn vốn trung và dài hạn ngoài ngân hàng. Theo tôi, duy trì tăng trưởng cao sẽ đòi hỏi cải cách tài chính để tăng cường sức chống chịu của ngân hàng, đồng thời phát triển thị trường vốn, nhất là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nhằm huy động vốn dài hạn và giảm phụ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng.
Ưu tiên chính sách có thể cân nhắc bao gồm nâng chất lượng công bố thông tin, phát triển xếp hạng tín nhiệm độc lập, bảo vệ nhà đầu tư, mở rộng nhà đầu tư tổ chức, cải thiện chuẩn mực quản trị doanh nghiệp, phát triển trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng, hợp đồng hợp tác PPP và tài chính hỗn hợp. Mục tiêu không phải là giảm vai trò của ngân hàng, mà là xây dựng hệ thống tài chính cân bằng hơn, trong đó ngân hàng và thị trường vốn bổ trợ cho nhau để phân bổ nguồn lực đạt hiệu quả và bền vững hơn.
Mekong ASEAN: Xin trân trọng cảm ơn ông!
![]() |
Ảnh cảng xuất nhập khẩu. Nguồn VIMC