![]() |
Khi dư địa khai thác tự nhiên dần chạm ngưỡng giới hạn, nuôi biển được xác định là không gian kinh tế mới, mang tính chiến lược của ngành thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu tỷ USD và bứt phá lên quy mô công nghiệp, việc giải quyết bài toán cốt lõi về công nghệ và tự chủ nguồn giống đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Mekong ASEAN đã có cuộc trao đổi với ông Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thuỷ sản Việt Nam để cùng nhận diện và tháo gỡ những 'nút thắt' này.
Mekong ASEAN: Xin ông cho biết đôi nét về ngành thủy sản Việt Nam hiện nay, đâu là động lực để nuôi biển trở thành không gian kinh tế mới, đóng góp cao cho ngành thủy sản?
Ông Phùng Đức Tiến: Trong nhiều năm qua, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát triển rất tích cực và ngày càng khẳng định vai trò là một trong những trụ cột quan trọng của ngành nông nghiệp. Năm 2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ biến động thị trường, thiên tai và chi phí sản xuất gia tăng, ngành thủy sản vẫn đạt mức tăng trưởng 4,4%.
Tính đến hết tháng 8 năm 2026, tổng sản lượng thủy sản cả nước đạt khoảng 6,95 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,94 tỷ USD. Tăng trưởng toàn ngành đạt 3,8%, trong khi xuất khẩu tăng tới khoảng 19%. Hiện nay, thủy sản đóng góp khoảng 27 - 28% giá trị toàn ngành nông nghiệp, khẳng định vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu sản xuất và xuất khẩu nông sản của đất nước.
Nguồn lợi thủy sản khai thác tự nhiên đang dần đến ngưỡng giới hạn. Trữ lượng điều tra hiện khoảng 3,9 triệu tấn, trong khi sản lượng khai thác đã đạt khoảng 3,8 triệu tấn. Với đội tàu hơn 82.000 chiếc hiện nay, dư địa tăng trưởng từ khai thác không còn nhiều. Vì vậy, giảm cường lực khai thác, bảo vệ nguồn lợi và đẩy mạnh nuôi biển là lựa chọn mang tính chiến lược.
Trong giai đoạn 2021 - 2025, sản lượng nuôi biển tăng khoảng 84%, năm 2025 đạt gần 859.000 tấn, vượt mục tiêu đề ra là 850.000 tấn. Giá trị xuất khẩu từ nuôi biển hiện đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Trong đó, riêng xuất khẩu tôm hùm xanh và tôm hùm bông đã đạt khoảng 854 triệu USD.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đến năm 2030 sản lượng nuôi biển từ 1,4 - 1,5 triệu tấn và kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,82 tỷ USD, chúng ta cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề. Trước hết là phát triển hạ tầng phục vụ nuôi biển, từ hệ thống cảng cá, khu neo đậu, cơ sở hậu cần đến các trung tâm nghiên cứu, sản xuất giống và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách về giao khu vực biển, tín dụng đầu tư, bảo hiểm và thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển chuỗi giá trị.
Quan trọng hơn cả là phải lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế nhưng không chạy theo những mô hình quá lớn hoặc quá đắt đỏ. Điều cốt lõi là ứng dụng công nghệ phù hợp, phát huy lợi thế tự nhiên và tổ chức sản xuất hiệu quả.
![]() |
Khu vực nuôi ngao tại vùng biển Hạ Long (Quảng Ninh). Ảnh: Đức Anh/Mekong ASEAN.
Mekong ASEAN: Đâu là những nút thắt về khoa học công nghệ cần tháo gỡ để phát triển nuôi biển quy mô lớn, thưa ông?
Ông Phùng Đức Tiến: Muốn phát triển nuôi biển thành một ngành kinh tế quy mô lớn, trước hết chúng ta phải nhìn thẳng vào những hạn chế đang tồn tại hiện nay. Tại nhiều địa phương ven biển, đặc biệt ở khu vực miền Trung và miền Nam, mô hình nuôi biển vẫn chủ yếu là lồng bè nhỏ lẻ. Tôi đã trực tiếp đến nhiều vùng nuôi và nhận thấy phần lớn lồng bè vẫn được làm bằng tre, nứa hoặc các vật liệu truyền thống..
Chúng ta cần xác định rõ rằng nuôi biển là lĩnh vực có mức độ rủi ro cao, trong khi vốn đầu tư lại rất lớn. Nếu công nghệ không bảo đảm, chỉ cần một sự cố xảy ra cũng có thể gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi và doanh nghiệp. Khi đó sẽ không có nhà đầu tư nào sẵn sàng bỏ vốn để mở rộng sản xuất.
Trong quá trình tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế, tôi đã nhiều lần đến Na Uy - một trong những quốc gia phát triển nhất về nuôi biển. Điều khiến tôi ấn tượng là quy mô sản xuất và trình độ công nghệ của họ. Mỗi ngày, Na Uy có thể cung cấp tới hàng chục triệu suất ăn cá hồi cho thị trường toàn cầu. Hệ thống lồng nuôi, tàu phục vụ sản xuất, công nghệ giám sát và quản lý đều rất hiện đại. Tôi từng tận mắt chứng kiến những lồng nuôi có quy mô lên tới 2.000 tấn.
Tuy nhiên, công nghệ hiện đại luôn đi kèm với chi phí đầu tư rất lớn. Có lần tôi nói vui với Đại sứ Na Uy rằng thiết bị của họ quá đắt, bà vui vẻ đáp rằng bà biết trước tôi sẽ nói như vậy. Thực tế, thiết bị của họ đúng là đắt, nhưng hiệu quả mang lại cũng rất cao.
Điều đó cho thấy chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế nhưng không thể sao chép y nguyên. Việt Nam phải có cách đi riêng, phù hợp với điều kiện thực tế của mình. Chúng ta phải biết tận dụng lợi thế sẵn có, lựa chọn công nghệ phù hợp, phát huy tinh thần sáng tạo để phát triển ngành nuôi biển theo hướng hiệu quả và bền vững.
![]() |
Để phát triển nuôi biển, cần hoàn thiện toàn bộ hệ thống công nghệ, từ lồng nuôi, thiết bị hỗ trợ, công nghệ giống, thức ăn đến quản lý môi trường và phòng chống dịch bệnh. Việc lựa chọn công nghệ phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và khả năng đầu tư của Việt Nam.
Bên cạnh đó, cần đầu tư mạnh hơn cho nghiên cứu biển, nhất là tàu nghiên cứu biển sâu hiện đại, qua đó nâng cao năng lực khảo sát, nghiên cứu môi trường, phát triển công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế. Đồng thời, Nhà nước cần đầu tư tương xứng cho các trung tâm nghiên cứu thủy sản về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và cơ chế hoạt động.
Đối với nuôi biển, hai nút thắt cốt lõi là làm chủ khoa học, công nghệ để kiểm soát rủi ro và làm chủ công nghệ sản xuất giống để chủ động nguồn cung. Khi giải quyết được hai vấn đề này, kết hợp với lựa chọn đúng đối tượng nuôi và công nghệ phù hợp, nuôi biển mới có thể phát triển quy mô lớn và thu hút đầu tư.
Ngoài ra, cần chú trọng công nghệ khai thác và bảo quản sau thu hoạch. Nhiều tàu cá hoạt động 15 - 20 ngày trên biển nhưng tỷ lệ thất thoát sau khai thác còn cao, từ 15 - 40%. Vì vậy, cần nghiên cứu công nghệ bảo quản hiện đại và thiết kế tàu khai thác phù hợp với từng nghề cá, từng vùng biển nhằm giảm tổn thất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
Mekong ASEAN: Vì sao vấn đề con giống vẫn là bài toán cần sớm giải quyết trong nuôi biển, thưa ông?
Ông Phùng Đức Tiến: Muốn phát triển nuôi biển bền vững, trước hết phải làm chủ công nghệ sản xuất con giống. Khi bão Yagi xảy ra năm 2024, tôi khi đó là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chủ trì cuộc họp bàn giải pháp khắc phục hậu quả đối với ngành thủy sản.
Tại cuộc họp, Cục trưởng Cục Thủy sản Trần Đình Luân đề xuất Nhà nước hỗ trợ kinh phí mua con giống để tái thả nuôi biển. Tôi nêu vấn đề không chỉ nằm ở kinh phí mua giống, mà quan trọng hơn là phải chủ động được nguồn giống. Người nuôi vẫn đặt câu hỏi: Việt Nam có giống ở đâu, mua ở đâu, trong khi nhiều loại giống vẫn phải nhập khẩu từ Trung Quốc.
Thực tế cho thấy, khả năng tự chủ nguồn giống của chúng ta còn thấp, nhiều loại giống vẫn phải nhập khẩu. Ngay cả với tôm thẻ chân trắng, Việt Nam vẫn phải nhập tôm giống ông bà và chưa hoàn toàn làm chủ việc tạo, duy trì dòng giống gốc, khiến mỗi năm vẫn phải nhập khẩu hàng trăm nghìn con tôm giống phục vụ sản xuất.
Đầu năm vừa rồi, tôi đi cùng Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng sang Trung Quốc để trao đổi về vấn đề tôm hùm bông. Phía Trung Quốc yêu cầu tôm hùm bông xuất khẩu sang nước này phải được nuôi từ con giống F2, tức là không được sử dụng tôm hùm con khai thác từ tự nhiên.
Tôi cho rằng yêu cầu này quá cao, bởi ngay cả con giống F1 chúng ta còn chưa có thì lấy đâu ra F2. Ngay cả Trung Quốc cũng chưa sản xuất giống F1. Vì vậy, tôi đề nghị phía Trung Quốc cùng Việt Nam nghiên cứu công nghệ sinh sản nhân tạo để từng bước sản xuất được tôm hùm bông giống F1, F2. Trong giai đoạn hiện nay, trước mắt chúng ta cần truy xuất được nguồn gốc con giống, sau đó từng bước giải quyết bài toán sản xuất và làm chủ công nghệ giống.
Muốn phát triển nuôi biển bền vững, Việt Nam phải từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học để chủ động sinh sản và sản xuất giống các loài thủy sản biển có giá trị.
Bên cạnh đó, cần lựa chọn những đối tượng nuôi có lợi thế, phù hợp với điều kiện tự nhiên, có thị trường và khả năng phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Không phải đối tượng nào cũng đưa ra biển nuôi, mà phải dựa trên năng lực làm chủ kỹ thuật nuôi và công nghệ sản xuất giống.
![]() |
Mekong ASEAN: Sắp tới, sẽ diễn ra Global Marintech Expo 2026, ông hãy cho biết đôi nét về sự kiện này?
Ông Phùng Đức Tiến: Global Marintech Expo 2026 sẽ diễn ra từ ngày 18 đến 20/11/2026 tại Trung tâm Triển lãm Quốc gia VEC (Hà Nội). Đây là triển lãm quốc tế chuyên ngành đầu tiên tại Việt Nam tập trung toàn diện vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nuôi biển công nghiệp và phát triển kinh tế biển bền vững.
Triển lãm do Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Hội Thủy sản Việt Nam và Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự tham gia của các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng ngư dân trong và ngoài nước.
Triển lãm có quy mô hơn 50.000 m², trên 250 gian hàng, dự kiến thu hút 8.000 - 10.000 khách chuyên ngành và đại diện 20 - 30 quốc gia, vùng lãnh thổ. Triển lãm giới thiệu các công nghệ, giải pháp và sản phẩm trong toàn chuỗi giá trị thủy sản, từ con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học đến thiết bị nuôi trồng, cơ giới hóa, chế biến và truy xuất nguồn gốc.
Trong khuôn khổ sự kiện có nhiều hoạt động, như “Diễn đàn trí thức - Nơi định hình tương lai” tập trung vào nuôi biển công nghiệp, công nghệ nuôi biển xa bờ, RAS và các mô hình nuôi biển trên bờ, thúc đẩy kết nối nghiên cứu, sản xuất và chuyển giao công nghệ. Chương trình kết nối đầu tư, thương mại quốc tế tạo cơ hội liên kết nguồn vốn, công nghệ, doanh nghiệp và địa phương.
Trong khi đó, Farm Tour đưa chuyên gia, doanh nghiệp, nhà đầu tư đến các vùng nuôi trọng điểm để tìm hiểu mô hình công nghệ, trao đổi kinh nghiệm và tìm kiếm cơ hội hợp tác.