Số liệu từ Cục Thống kê cho biết, 3 quý đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang EU đạt 50,7 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước (YoY).
Riêng kim ngạch xuất khẩu sang 5 thị trường lớn nhất đạt 33,2 tỷ USD, chiếm 66% tỷ trọng trị giá. Trong đó, số liệu từ Cục Hải quan cho biết, Hà Lan là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đạt 12,4 tỷ USD, tăng 27,5% YoY.
Các thị trường xuất khẩu đứng sau lần lượt là Đức với trị giá 9,1 tỷ USD, tăng 31,4% YoY; Italy đạt 4,1 tỷ USD, tăng 4,2% YoY; Tây Ban Nha đạt 3,8 tỷ USD, tăng 22,2% YoY; Pháp đạt 3,5 tỷ USD, tăng 19% YoY.
Hà Lan
3 quý đầu năm 2026, Việt Nam có 5 mặt hàng xuất khẩu sang Hà Lan đạt trị giá tỷ USD. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, đạt 3,7 tỷ USD, tăng 53,8% YoY.
Các mặt hàng xuất khẩu đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 1,9 tỷ USD, tăng 18,7% YoY; giày dép đạt 1,4 tỷ USD, tăng 6,2% YoY; dệt may đạt 1,1 tỷ USD, tăng 15,7% YoY; điện thoại và linh kiện ở mức 1,02 tỷ USD, tăng 21,6% YoY.
Tổng kim ngạch 5 mặt hàng trên đạt 9,2 tỷ USD, chiếm 75% tỷ trọng.
Ở nhóm nông thủy sản, hạt điều là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với trị giá 275,1 triệu USD, giảm 23,9% YoY. Cà phê xuất khẩu cũng giảm 15,6% YoY, còn 238,7 triệu USD; rau quả tăng 38,4% YoY, đạt 170,8 triệu USD; thủy sản tăng nhẹ 0,4% YoY, đạt 162,9 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu sang Hà Lan tăng 13,5% YoY, lên mức 59,6 triệu USD; gạo giảm 13,6% YoY, đạt 7,6 triệu USD.
Một số mặt hàng xuất khẩu sang Hà Lan tăng cao như gỗ và sản phẩm gỗ tăng 86,3% YoY, đạt 138,1 triệu USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 42,3% YoY, đạt 175,6 triệu USD; hóa chất tăng 47,4% YoY, đạt 23 triệu USD.
Đáng chú ý, đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận tăng tới 262% YoY, từ mức 139,6 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên 505,5 triệu USD.
Đức
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Đức trong 3 quý đầu năm 2026, đạt 1,8 tỷ USD, tăng tới 104,8% so với mức 899 triệu USD tại cùng kỳ năm trước.
Hai mặt hàng xuất khẩu đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 1,4 tỷ USD, tăng 32,8% YoY; điện thoại và linh kiện tăng 60,3% YoY, đạt 1 tỷ USD.
Trong Top 5 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, Việt Nam xuất khẩu cà phê sang Đức đạt 870 triệu USD, giảm 7,3% YoY; dệt may đạt 638 triệu USD, giảm 3,6% YoY.
Tổng kim ngạch 5 mặt hàng trên đạt 5,7 tỷ USD, chiếm 63% tỷ trọng.
Các mặt hàng xuất khẩu sang Đức có kim ngạch lớn còn bao gồm giày dép đạt 505 triệu USD, giảm 4,8% YoY; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 335 triệu USD, tăng 42,1% YoY; đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận đạt 250 triệu USD, tăng tới 282% YoY.
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam còn thu về 164,2 triệu USD từ xuất khẩu thủy sản, tăng 1,2% YoY; hạt điều tăng nhẹ 0,06% YoY, đạt 153,6 triệu USD; rau quả tăng 41% YoY, ở mức 86,3 triệu USD; hạt tiêu giảm 17,7% YoY, đạt 81,8 triệu USD; chè tăng 72% YoY, lên 1,29 triệu USD.
Italy
3 quý đầu năm 2026, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Italy, đạt 723,8 triệu USD, tăng 81,5% YoY.
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai với trị giá 543,6 triệu USD, giảm nhẹ 0,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong Top 5 mặt hàng, Việt Nam xuất khẩu giày dép sang Italy đạt 433 triệu USD, tăng 3,6% YoY; điện thoại và linh kiện đạt 399,9 triệu USD, giảm 10,9% YoY; sắt thép với trị giá 382,1 triệu USD, giảm 26,5% YoY.
Tổng kim ngạch 5 mặt hàng trên đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 61% tỷ trọng.
Trong kỳ, một số mặt hàng khác có trị giá trên 100 triệu USD, bao gồm phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 328 triệu USD, tăng 12,2% YoY; dệt may đạt 306 triệu USD, tăng 3% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 221,7 triệu USD, giảm 9,4% YoY.
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam còn xuất khẩu thủy sản sang Italy đạt 55,7 triệu USD, giảm 32,4% YoY; hạt điều đạt 28,3 triệu USD, giảm 14,7% YoY; rau quả đạt 9,09 triệu USD, giảm 71,2% YoY; hạt tiêu đạt 6,8 triệu USD, tăng 3,4% YoY.
Tây Ban Nha
Dệt may là mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang Tây Ban Nha, đạt 499,5 triệu USD, tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ năm trước.
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai với trị giá 463,9 triệu USD, giảm 10,5% YoY. Các mặt hàng xuất khẩu đứng sau lần lượt là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 423,3 triệu USD, tăng 128,3% YoY; giày dép đạt 418,3 triệu USD, tăng 6% YoY; điện thoại và linh kiện đạt 414,6 triệu USD, tăng 8,7% YoY.
Tổng kim ngạch 5 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 58% tỷ trọng.
Trong kỳ, các mặt hàng xuất khẩu có trị giá trên 100 triệu USD còn bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 247,4 triệu USD, tăng 83,5% YoY; đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận khác tăng tới 414,2% YoY, từ mức 43,6 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên mức 224,2 triệu USD tại kỳ này.
Kim ngạch xuất khẩu sắt thép đạt 147,1 triệu USD, giảm 30,6% so với cùng kỳ năm trước; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 134,4 triệu USD, tăng 63,1% YoY.
Trong nhóm nông thủy sản, kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng 19,5% YoY, lên mức 72,8 triệu USD; hạt điều cũng tăng 22,6% YoY, đạt 67,6 triệu USD; hạt tiêu tăng 26,7% YoY, đạt 21,8 triệu USD; gạo giảm 19,2% YoY, đạt 1,3 triệu USD.
Pháp
Điện thoại và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất sang Pháp, đạt 553,6 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Giày dép là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai, đạt 521,1 triệu USD, tăng 8,3% YoY.
Các mặt hàng xuất khẩu đứng sau bao gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 447,1 triệu USD, tăng 30,4% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác ở mức 434,5 triệu USD, tăng 36,3% YoY; dệt may với trị giá 398,8 triệu USD, tăng 3,8% YoY.
5 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất sang Pháp có tổng kim ngạch 2,3 tỷ USD, chiếm 67% trị giá hàng hóa.
Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Pháp có trị giá trên 100 triệu USD còn bao gồm phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 118,4 triệu USD, tăng 36,7% YoY; túi xách, ví, vali, mũ, ô dù đạt 105,2 triệu USD, tăng 18,7% YoY.
Ở nhóm nông thủy sản, cà phê tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất sang nước này, đạt 99 triệu USD, giảm 3,4% YoY.
Hạt điều là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai với trị giá 51,1 triệu USD, giảm 4,4% YoY. Các mặt hàng xuất khẩu đứng sau lần lượt là rau quả với trị giá 44,4 triệu USD, tăng 4,7% YoY; thủy sản đạt 41,4 triệu USD, giảm 8,2% YoY; hạt tiêu đạt 22 triệu USD, tăng 78,8% YoY; gạo đạt 2,73 triệu USD, tăng 14,2% YoY.
![]() |