![]() |
Nhân chuyến công tác của Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 và làm việc song phương tại Ấn Độ từ ngày 12 – 13/9, Mekong ASEAN có cuộc trao đổi với Tham tán thương mại Việt Nam tại Ấn Độ Bùi Trung Thướng, đề cập đến dòng chảy giao thương hai nước cùng những dư địa mở rộng hợp tác trong giai đoạn mới và lộ trình hiện thực hóa mục tiêu thương mại 25 tỷ USD vào năm 2030.
![]() |
Mekong ASEAN: Nhìn lại chặng đường vừa qua, ông nhận định như thế nào về những bước tiến nổi bật trong quan hệ thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ?
Tham tán Bùi Trung Thướng: Có thể nói thương mại Việt Nam – Ấn Độ đang bước vào một giai đoạn phát triển rất tích cực. Trong 10 năm kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, quy mô thương mại đã tăng mạnh.
Năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều đạt khoảng 16,46 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2024. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt khoảng 10,3 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 6,1 tỷ USD. Đáng chú ý, trong 8 tháng đầu năm 2026, thương mại hai chiều đã đạt 13,4 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước; riêng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này đạt 8,05 tỷ USD, tăng 16,9%.
Không chỉ tăng trưởng về con số, một điểm đáng tích cực khác cần được nhắc đến là sự dịch chuyển về cơ cấu hàng hóa giao thương hai bên. Hiện hơn 70% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ thuộc nhóm chế biến, chế tạo như điện tử, máy móc, thiết bị. Dù vậy, các mặt hàng thế mạnh của nước ta là nông sản, thủy sản, cao su, hồ tiêu cũng đang ghi nhận tăng trưởng tích cực kim ngạch xuất khẩu sang nước này. Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Ấn Độ các mặt hàng về nguyên phụ liệu, dược phẩm, hóa chất, sắt thép và các đầu vào phục vụ sản xuất.
Điều này cho thấy hai nền kinh tế có tính bổ trợ khá rõ nét, không chỉ đơn thuần là quan hệ mua – bán hàng hóa mà đang từng bước tham gia vào cùng các chuỗi giá trị.
Do đó, tôi cho rằng, mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030 là tham vọng nhưng hoàn toàn có cơ sở. Vấn đề quan trọng hiện nay là phải chuyển từ tăng trưởng thương mại theo chiều rộng sang kết nối doanh nghiệp, đầu tư, công nghệ và chuỗi cung ứng.
![]() |
Mekong ASEAN: Sau cột mốc nâng cấp quan hệ song phương và xác lập mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030, theo ông, đâu sẽ là những động lực và định hướng hợp tác trọng tâm giữa doanh nghiệp hai nước trong giai đoạn tới?
Tham tán Bùi Trung Thướng: Tôi đánh giá dư địa mở rộng hợp tác doanh nghiệp hai bên còn rất lớn.
Chúng ta đang đứng trước một thời điểm khá đặc biệt khi quan hệ chính trị – ngoại giao giữa hai nước đang tạo nền tảng rất thuận lợi cho hợp tác kinh tế. Sau chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tháng 5/2026, hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường và xác định mục tiêu đưa thương mại lên 25 tỷ USD vào năm 2030.
Tôi cho rằng giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ xúc tiến thương mại sang kết nối doanh nghiệp và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này có nghĩa, chúng ta không chỉ tổ chức các đoàn doanh nghiệp sang gặp nhau, mà phải tìm được đối tác cụ thể, đơn hàng cụ thể, dự án đầu tư cụ thể và chuỗi cung ứng cụ thể.
Những lĩnh vực tôi cho rằng có nhiều tiềm năng gồm nông sản – thực phẩm – thủy sản; dệt may – da giày; điện tử và công nghiệp hỗ trợ; dược phẩm; logistics; công nghệ thông tin và AI; năng lượng tái tạo; sản xuất xe điện và các ngành công nghiệp mới.
Một hướng đi rất đáng chú ý là kết nối Việt Nam – Ấn Độ – BRICS. Trong năm 2026, Ấn Độ là nước Chủ tịch BRICS và Việt Nam là nước đối tác BRICS. Đây là cơ hội để doanh nghiệp hai nước không chỉ hợp tác song phương mà còn kết nối với các thị trường lớn khác trong hệ sinh thái BRICS.
![]() |
![]() |
Mekong ASEAN: Với vị thế là thị trường đông dân nhất thế giới, theo ông, Ấn Độ đang mở ra những cơ hội thị trường cụ thể nào cho hàng hóa và doanh nghiệp Việt Nam?
Tham tán Bùi Trung Thướng: Theo tôi, không nên chỉ nhìn Ấn Độ là một thị trường có hơn 1,47 tỷ dân, mà cần nhìn đây là một trong những trung tâm tăng trưởng, sản xuất và đổi mới sáng tạo quan trọng nhất của thế giới.
Cơ hội đầu tiên là thị trường tiêu dùng. Tầng lớp trung lưu Ấn Độ ngày càng mở rộng nhu cầu đối với thực phẩm chế biến, đồ uống, cà phê, thủy sản, hàng tiêu dùng, điện tử, đồ gia dụng và các sản phẩm có chất lượng cao. Trong khi đó, Thương vụ cũng nhận thấy rõ sự quan tâm các sản phẩm thực phẩm, đồ uống của doanh nghiệp Việt Nam từ các nhà nhập khẩu thông qua các hội chợ như Hội chợ Thực phẩm & Khách sạn Quốc tế (AAHAR) và Hội chợ thực phẩm Indusfood. Đây đều là những hội chợ thương mại quốc tế hàng đầu về thực phẩm tại khu vực Nam Á và châu Á.
Cơ hội thứ hai là tham gia vào chuỗi cung ứng sản xuất của Ấn Độ. Ấn Độ đang đẩy mạnh sản xuất trong nước, phát triển công nghiệp điện tử, ô tô, dược phẩm, năng lượng, logistics và công nghệ cao. Nếu tận dụng được xu hướng này, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh mà còn cung cấp linh kiện, nguyên phụ liệu, dịch vụ và giải pháp công nghệ cho quốc gia tỷ dân.
Cơ hội thứ ba là công nghệ và kinh tế số. Việt Nam có thế mạnh về sản xuất điện tử, phần cứng và đang phát triển nhanh hệ sinh thái công nghệ. Trong khi đó, Ấn Độ có thế mạnh rất lớn về phần mềm, dịch vụ số, AI, fintech và nhân lực công nghệ. Tôi cho rằng đây sẽ là những lĩnh vực có tiềm năng tạo ra các mô hình hợp tác mới, có giá trị gia tăng cao.
Và cơ hội thứ tư, Ấn Độ có thể trở thành cửa ngõ để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận sâu hơn vào thị trường Nam Á, Trung Đông, châu Phi và các chuỗi giá trị liên quan đến BRICS. Theo tôi, cơ hội này rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay, nhất là khi Việt Nam đang tích cực đa dạng hóa thị trường, tìm kiếm thị trường ngách nhằm tạo thêm không gian cho xuất khẩu.
|
Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia trưng bày sản phẩm ở các triển lãm lớn tại Ấn Độ. Nguồn: Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ |
![]() |
Mekong ASEAN: Tính đến nay, những tên tuổi nào của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã đặt chân và ghi dấu ấn tại thị trường Ấn Độ, thưa ông?
Tham tán Bùi Trung Thướng: VinFast là doanh nghiệp Việt Nam có bước đi rất đáng chú ý khi không chỉ xuất khẩu sản phẩm sang Ấn Độ mà đã đầu tư sản xuất và xây dựng cơ sở tại thị trường này.
Hiện doanh nghiệp này cũng đang điều chỉnh chiến lược để thích ứng tốt hơn với thị trường Ấn Độ. Trong đó, VinFast tập trung nghiên cứu phát triển các mẫu xe phù hợp với nhu cầu và mức giá của người tiêu dùng Ấn Độ, đồng thời tăng tỷ lệ sử dụng nhà cung cấp nội địa.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã và đang mở rộng hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử, thực phẩm, cà phê, dệt may và hàng tiêu dùng. Các doanh nghiệp như FPT, Vietnam Airlines, Vietravel, Intech và một số doanh nghiệp trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm đã từng bước xây dựng quan hệ đối tác và thị trường tại Ấn Độ.
Tuy nhiên, tôi cho rằng, chúng ta vẫn chưa có “cánh chim đầu đàn” tại thị trường này. Chúng ta sẽ cần những doanh nghiệp lớn đầu tư trước, tạo hệ sinh thái và kéo theo các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào chuỗi cung ứng tại Ấn Độ.
|
Ngày 4/8/2025, VinFast khánh thành nhà máy lắp ráp ô tô điện tại Khu công nghiệp SIPCOT, thành phố Thoothukudi, bang Tamil Nadu, Ấn Độ. Nguồn: VinFast |
![]() |
Mekong ASEAN: Dù giàu tiềm năng, Ấn Độ vẫn được đánh giá là một thị trường không hề dễ tính. Nhìn từ thực tế, cộng đồng doanh nghiệp Việt đang vấp phải những khó khăn cụ thể nào, thưa ông?
Tham tán Bùi Trung Thướng: Phải khẳng định, Ấn Độ là thị trường rất lớn nhưng không phải thị trường dễ. Doanh nghiệp khi vào thị trường sẽ phải đối mặt với hàng rào kỹ thuật và quy định nhập khẩu nghiêm ngặt của nước này. Ấn Độ có hệ thống tiêu chuẩn, kiểm dịch, an toàn thực phẩm, ghi nhãn, chứng nhận chất lượng và các quy định chuyên ngành khá phức tạp. Các quy định cũng có thể thay đổi tương đối nhanh, do đó doanh nghiệp phải chủ động cập nhật và đảm bảo tuân thủ các quy định.
Thứ hai, thị trường này rất đa dạng và phân mảnh. Ấn Độ không phải là một thị trường đồng nhất. Mỗi bang có đặc điểm kinh tế, ngôn ngữ, văn hóa tiêu dùng, hệ thống phân phối và mức thu nhập khác nhau. Doanh nghiệp không nên có tư duy “vào Ấn Độ một lần là tiếp cận được toàn bộ thị trường”.
Thứ ba, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất cao, không chỉ với doanh nghiệp Ấn Độ mà còn với các doanh nghiệp Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, châu Âu và nhiều nước ASEAN.
Cuối cùng, vấn đề logistics, thanh toán, tìm kiếm đối tác và xây dựng hệ thống phân phối sẽ là những yếu tố quyết định khả năng phát triển lâu dài. Do đó, tôi khuyến nghị doanh nghiệp Việt Nam không nên chỉ tìm một nhà nhập khẩu, mà cần xác định chiến lược thị trường dài hạn, lựa chọn bang và phân khúc phù hợp, xây dựng đối tác và thương hiệu tại chỗ.
|
Tham tán thương mại Việt Nam tại Ấn Độ Bùi Trung Thướng. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Mekong ASEAN: Từ góc độ cơ quan đại diện tại địa bàn, Thương vụ có những khuyến nghị hay lưu ý cốt lõi nào giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận và phát triển thị trường Ấn Độ an toàn, hiệu quả?
Tham tán Bùi Trung Thướng: Tôi muốn nhấn mạnh với doanh nghiệp Việt Nam 5 chữ “biết” khi vào thị trường Ấn Độ:
Một là biết luật và tiêu chuẩn. Trước khi xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ các quy định về tiêu chuẩn, kiểm dịch, an toàn thực phẩm, ghi nhãn, chứng nhận và các yêu cầu của cơ quan quản lý Ấn Độ.
Hai là biết đối tác. Các doanh nghiệp cần thẩm tra kỹ năng lực tài chính, lịch sử giao dịch, hệ thống phân phối và uy tín của đối tác trước khi ký hợp đồng và đặc biệt thận trọng trong các phương thức thanh toán.
Ba là biết thị trường. Doanh nghiệp không nên nhìn Ấn Độ như một thị trường duy nhất mà cần xác định rõ bang, thành phố, phân khúc khách hàng và kênh phân phối.
Bốn là biết đầu tư vào thị trường. Nếu chỉ xuất khẩu từ Việt Nam, doanh nghiệp rất khó xây dựng thị phần lớn. Với những ngành có tiềm năng, doanh nghiệp nên tính đến việc xây dựng kho hàng, trung tâm phân phối, văn phòng đại diện, liên doanh hoặc thậm chí sản xuất tại Ấn Độ.
Năm là biết tận dụng các cơ quan hỗ trợ. Thương vụ - Đại sứ quán Việt Nam tại Ấn Độ sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường, chính sách, kết nối đối tác, hội chợ và xúc tiến thương mại. Trong năm 2026, Thương vụ đã triển khai nhiều hoạt động theo hướng kết nối trực tiếp doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý hai nước trong các lĩnh vực như thực phẩm, thủy sản, dệt may, công nghiệp hỗ trợ, logistics và công nghệ.
![]() |