|
|
| Phiên thảo luận về thương mại, đầu tư và hạ tầng trong kỷ nguyên số và xanh trong khuôn khổ Meet Indonesia 2026. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN. |
Trong khuôn khổ Hội nghị Gặp gỡ Indonesia 2026 (Meet Indonesia 2026) tổ chức tại Quảng Ninh ngày 30/10, phiên thảo luận chuyên đề "Thương mại, đầu tư và hạ tầng trong kỷ nguyên số và xanh" đã diễn ra với sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp hai nước; tập trung thảo luận hai nội dung chính là kết nối chuỗi cung ứng và phát triển thương mại điện tử.
Với chuỗi cung ứng, điểm xuất phát là cơ cấu hàng hóa bổ sung cho nhau của hai nước, từ đó mở ra khả năng hợp tác sâu hơn ở các khâu sản xuất, chế biến và logistics. Với thương mại điện tử, đây là kênh phân phối mới, giúp doanh nghiệp hai bên, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận trực tiếp thị trường của nhau.
Đây cũng là hai hướng Quảng Ninh, địa phương đăng cai hội nghị, lựa chọn để tham gia vào hợp tác với Indonesia, gắn với các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư của địa phương như công nghiệp hỗ trợ, điện tử và chế tạo, năng lượng sạch, logistics, chế biến nông sản và thủy sản.
Kết nối chuỗi cung ứng từ cơ cấu hàng hóa hai chiều
Phát biểu đề dẫn phiên thảo luận, ông Bayu Nugroho, Vụ trưởng Vụ Phát triển Thị trường Xuất khẩu và Thông tin (Bộ Thương mại Indonesia), cho biết Indonesia và Việt Nam là một gia đình ASEAN, chia sẻ những giá trị và lợi ích chung. Việt Nam là đối tác chiến lược quan trọng của Indonesia, và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện tạo nền tảng để phát triển những hợp tác thiết thực, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp hai nước.
Theo số liệu của Indonesia, kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước năm 2025 đạt khoảng 16,77 tỷ USD, tăng 4,9% so với năm trước. Riêng 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 12,42 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Về cơ cấu hàng hóa, Indonesia cung cấp cho Việt Nam các mặt hàng như ô tô, xe máy, thép không gỉ, các sản phẩm dầu cọ và hóa chất; đồng thời nhập khẩu hàng dệt may, giày dép, thiết bị truyền thông và linh kiện, giấy từ Việt Nam.
Ông Bayu Nugroho nhận định, cơ cấu hàng hóa này cho thấy cơ hội kết nối mạng lưới sản xuất của hai nước chặt chẽ hơn, kết hợp các chuỗi cung ứng với nhau. Doanh nghiệp hai bên có thể tìm kiếm quan hệ đối tác trong các lĩnh vực nguyên liệu đầu vào công nghiệp, chế biến, phân phối và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Ông cũng khuyến khích các đại biểu tìm hiểu cơ hội trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống, sản phẩm Halal và các hàng tiêu dùng khác, bên cạnh hợp tác về sản xuất, logistics và đặc biệt là du lịch với phương án du khách tới Việt Nam có thể được mời nối tiếp kỳ nghỉ tại Indonesia và ngược lại.
"Tất cả những nỗ lực này có thể đưa hai nước đến gần hơn mục tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều 18 tỷ USD vào năm 2028," ông Bayu Nugroho nói.
Để duy trì kết nối sau diễn đàn, ông giới thiệu cổng xuất khẩu quốc gia của Indonesia - InaExport. Đây là phòng trưng bày số, nơi doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm hiểu sản phẩm và các nhà xuất khẩu đã được xác minh của Indonesia, đồng thời gửi yêu cầu tìm nguồn cung tới các nhà cung cấp tiềm năng.
Ông Bayu Nugroho nhấn mạnh, Bộ Thương mại Indonesia, đặc biệt là Tổng cục Phát triển Xuất khẩu Quốc gia, ủng hộ Meet Indonesia 2026 trong việc kết nối các bên liên quan thuộc khu vực tư nhân của Indonesia và Việt Nam, nhằm xây dựng quan hệ đối tác lâu dài.
"Tình hữu nghị ngoại giao giữa hai nước là nền tảng vững chắc, và chính quan hệ kinh doanh được xây dựng sẽ giúp tình hữu nghị đó có ý nghĩa kinh tế lớn hơn, phát triển thông qua các đơn hàng thực chất và hoạt động bền vững," ông Bayu Nugroho khẳng định.
Quảng Ninh chọn lĩnh vực để đi vào chuỗi giá trị với Indonesia
Nếu chuỗi cung ứng là con đường chung của hai nước, thì với Quảng Ninh, câu hỏi đặt ra là bước vào chuỗi ở khâu nào.
Chia sẻ về các lĩnh vực Quảng Ninh ưu tiên thu hút nhà đầu tư Indonesia, đại diện Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh cho biết địa phương hiện có rất nhiều dự án "sạch" và mong muốn các nhà đầu tư Indonesia quan tâm đến Quảng Ninh.
Các lĩnh vực ưu tiên gồm công nghiệp hỗ trợ, điện tử và chế tạo, năng lượng sạch, logistics, đặc biệt là chế biến nông sản và thủy sản.Đây là những lĩnh vực gắn trực tiếp với chuỗi cung ứng mà phía Indonesia vừa nêu: công nghiệp hỗ trợ, chế tạo và chế biến là các khâu sản xuất; logistics là khâu kết nối; năng lượng sạch là điều kiện để các khâu đó vận hành theo hướng xanh.
Cách Quảng Ninh đi vào chuỗi cũng được chỉ ra ngay tại phiên thảo luận. Bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), cho rằng mỗi địa phương phải xuất phát từ lợi thế kinh tế của chính mình, bởi không có một mô hình chuẩn duy nhất phù hợp với tất cả các địa phương.
"Với Quảng Ninh - địa phương kết hợp được cả du lịch, logistics và sản xuất công nghiệp, thì cách làm sẽ phải toàn diện hơn, trong khi không phải địa phương nào cũng kết hợp được cả ba mô hình này," bà Việt Anh nói.
Thương mại điện tử mở kênh kết nối trực tiếp
Song song với chuỗi cung ứng sản xuất, thương mại điện tử là kênh kết nối thứ hai, đưa hàng hóa của doanh nghiệp địa phương tiếp cận trực tiếp thị trường Indonesia và khu vực.
Về định hướng phát triển thương mại điện tử của Việt Nam, bà Lại Việt Anh, cho biết theo báo cáo của Cục, quy mô thị trường thương mại điện tử Việt Nam năm 2025 đạt 30 tỷ USD, chiếm 11,4% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
|
|
| Bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử (Bộ Công Thương) chia sẻ tại phiên thảo luận. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN. |
Theo bà, thương mại điện tử tăng trưởng bền vững trước hết phụ thuộc vào niềm tin của người tiêu dùng tăng cao, giao dịch minh bạch và các chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh bình đẳng.
Yếu tố thứ hai là thương mại điện tử phải gắn với chuẩn mực số trong toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm doanh nghiệp trọng tâm. Kế hoạch tổng thể quốc gia về phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 70% doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử và 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia kinh doanh trên các nền tảng số.
Yếu tố thứ ba là thu hẹp khoảng cách vùng miền, khi thương mại điện tử hiện còn tập trung ở các thành phố lớn và mục tiêu đến năm 2030 là các khu vực ngoài thành phố lớn chiếm khoảng một nửa thị trường. Theo bà, Việt Nam có thể học thêm kinh nghiệm từ Indonesia - đất nước với hơn 17.000 hòn đảo nhưng vẫn phát triển thương mại điện tử rất tốt.
Yếu tố thứ tư là phát triển thương mại điện tử gắn với xanh. Bà Việt Anh lưu ý, nói về "số" nhưng số không phải lúc nào cũng "xanh", nên điều quan trọng là đạt được sự hài hòa giữa hai câu chuyện này, đồng thời phát huy các yếu tố bảo vệ người tiêu dùng.
Yếu tố thứ năm là mở rộng không gian tăng trưởng thông qua thương mại điện tử xuyên biên giới và hợp tác khu vực. Việt Nam và Indonesia đều tham gia tích cực, đóng vai trò dẫn dắt trong quá trình hình thành Hiệp định khung về kinh tế số ASEAN (DEFA), dự kiến ký kết vào cuối năm nay.
Với doanh nghiệp địa phương, bà Việt Anh khuyến nghị coi chuyển đổi số là khoản đầu tư cho năng lực cạnh tranh lâu dài, chứ không phải một dự án công nghệ hay kỹ thuật. Lộ trình thường bắt đầu từ thương mại điện tử - đưa hàng hóa lên môi trường số, rồi số hóa dần các quy trình như quản lý kho, quản lý khách hàng.
"Thách thức hiện nay không nằm ở việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ tách rời, mà ở việc đưa kinh tế số thẩm thấu vào các lĩnh vực truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, logistics và du lịch," bà Việt Anh nói.
Thu hút đầu tư phải đi cùng kinh tế xanh và khu công nghiệp bền vững
Bên cạnh hai hướng kết nối chính, phiên thảo luận còn dành thời gian cho các địa phương chia sẻ về kinh nghiệm thực tế về thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xanh và xây dựng khu công nghiệp bền vững - những điều kiện để một địa phương tham gia được vào chuỗi.
Về kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài của địa phương, ông Trần Sơn Tùng, Phó Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh, cho biết đến nay Bắc Ninh có hơn 3.700 doanh nghiệp FDI đang hoạt động ổn định, với tổng vốn đăng ký khoảng hơn 52 tỷ USD.
|
|
| Ông Trần Sơn Tùng, Phó Trưởng Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh phát biểu tại phiên thảo luận. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN. |
Theo ông, kinh nghiệm của tỉnh nằm ở việc tận dụng vị trí địa lý thuận lợi: cách sân bay Nội Bài khoảng 35 km, kết nối sân bay Gia Bình, cửa khẩu Lạng Sơn và cảng biển nước sâu Hải Phòng; cùng với đó là hạ tầng giao thông kết nối, cải cách thủ tục với cơ chế luồng xanh 24 giờ và việc đồng hành tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Tỉnh hiện có hơn 1.000 ha đất khu công nghiệp sẵn sàng, định hướng thu hút vào điện tử, công nghiệp hỗ trợ và nghiên cứu, phát triển.
Nhưng đón được dự án mới là bước đầu. Điều kiện thứ hai là phát triển mà không làm cạn kiệt nền tài nguyên và nguồn nhân lực - phần việc thuộc về kinh tế xanh.
Liên quan đến kinh tế xanh, GS TS Rossyda Priyadarshini, Quyền Phó Hiệu trưởng IV phụ trách quy hoạch, hợp tác và hệ thống thông tin, Đại học UPN "Veteran" Jawa Timur (Indonesia), cho rằng nền tảng của kinh tế xanh nằm ở đất và nước: cách mỗi quốc gia khai thác đất, quản lý nguồn nước và bảo vệ đa dạng sinh học sẽ quyết định giá trị kinh tế có thể tạo ra.
Theo bà, Chính phủ Indonesia đã có những chính sách rất mạnh về sử dụng đất theo hướng này.
|
|
| GS TS Rossyda Priyadarshini, Quyền Phó Hiệu trưởng IV, Đại học UPN "Veteran" Jawa Timur (Indonesia) . Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN. |
Bên cạnh nền tài nguyên, GS TS Rossyda Priyadarshini nhấn mạnh một nền tảng nữa là con người. Bà cho rằng các trường đại học giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của thời đại số. Cũng theo bà, khối lượng thương mại trong khối ASEAN sẽ tăng lên khi doanh nghiệp, chính phủ và giới học thuật giao tiếp sâu sát với nhau theo mô hình liên kết "ba nhà".
Điều kiện thứ ba là xây dựng khu công nghiệp bền vững để dự án triển khai và vận hành - phần việc thuộc về nhà đầu tư khu công nghiệp.
Chia sẻ về kinh nghiệm phát triển khu công nghiệp bền vững, đại diện Tập đoàn Sembcorp Industries (Singapore) cho biết, tập đoàn đã đầu tư tại Việt Nam từ năm 1996 với thương hiệu Khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP), hiện có 27 khu công nghiệp trải dài từ Bắc vào Nam.
Các khu công nghiệp VSIP đang chuyển từ mô hình truyền thống sang khu công nghiệp gắn với công nghệ số, công nghệ bền vững, xanh và ít phát thải carbon, đi cùng quy hoạch tổng thể cho các khu đô thị, khu công nghiệp tích hợp và các giải pháp năng lượng.
Trong lĩnh vực năng lượng, Sembcorp đóng góp khoảng 50% thị phần cung cấp điện bằng khí cho thị trường Singapore, từng đầu tư nhà máy điện BOT Phú Mỹ 3 tại Việt Nam và đã chuyển giao lại cho phía Việt Nam sau 20 năm vận hành ổn định. Danh mục năng lượng tái tạo của tập đoàn đạt 28 GW trên toàn cầu, riêng tại Việt Nam đã đầu tư trực tiếp 500 MW.
Theo đại diện tập đoàn, khi xây dựng chiến lược đầu tư hiện nay, Sembcorp không còn nhìn một quốc gia như một điểm đầu tư riêng lẻ, mà nhìn vào bức tranh tổng thể của khu vực. Việt Nam và Indonesia cộng lại chiếm 55% dân số và 45% GDP của ASEAN, và tập đoàn đang hướng tới trở thành trung tâm cung cấp các giải pháp "năng lượng số" cho thị trường ASEAN.
Từ các kinh nghiệm trên cho thấy, việc kết nối chuỗi cung ứng và thương mại điện tử với Indonesia hay bất kỳ một đối tác nào khác chỉ đi vào thực tế khi địa phương chuẩn bị đủ điều kiện ở phía sau: thủ tục và hạ tầng để đón dự án, nền tài nguyên và nhân lực được giữ vững, cùng khu công nghiệp đạt chuẩn xanh để dự án vận hành.
Từ hai tuyến kết nối được mở ra tại phiên thảo luận, có thể thấy hợp tác Việt Nam – Indonesia đang đi vào chiều sâu: không chỉ tăng kim ngạch trao đổi hàng hóa, mà còn gắn kết ở khâu sản xuất và ở kênh phân phối số. Với Quảng Ninh, địa phương đăng cai Meet Indonesia 2026, danh mục lĩnh vực ưu tiên đã nêu chính là điểm bắt đầu để địa phương đi vào cả hai tuyến kết nối đó.