|
|
Theo báo cáo công bố ngày 10/8 của Tổng cục Hải quan và Thuế tiêu thụ đặc biệt Campuchia (GDCE), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Campuchia trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt 44,07 tỷ USD, tăng 21,3% so với mức 36,32 tỷ USD cùng kỳ năm 2025 (YoY).
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 20,81 tỷ USD, tăng 21,3% YoY; còn kim ngạch nhập khẩu đạt 23,26 tỷ USD, tăng 21,4% YoY. Như vậy, sau 7 tháng, Campuchia ghi nhận thâm hụt thương mại khoảng 2,44 tỷ USD, tăng so với mức 1,99 tỷ USD của cùng kỳ năm 2025.
Dệt may vẫn là trụ cột xuất khẩu
Trong 7 tháng đầu năm, nhóm hàng may mặc và phụ kiện dệt kim đạt kim ngạch khoảng 4,55 tỷ USD, tăng 6,06% so với cùng kỳ năm 2025. Nhóm hàng may mặc và phụ kiện không dệt kim đạt khoảng 2,42 tỷ USD, tăng 11,40%.
Tính chung, hai nhóm hàng may mặc này mang về gần 6,97 tỷ USD, tương đương khoảng 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Campuchia trong 7 tháng.
Bên cạnh dệt may, một số nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn đáng kể. Xuất khẩu cao su và các sản phẩm từ cao su đạt khoảng 1,71 tỷ USD, tăng 60,16%; trái cây và các loại hạt ăn được đạt 1,45 tỷ USD, tăng 43,78%.
Xuất khẩu đồ nội thất, đệm, giường và các sản phẩm tương tự tăng 31,67%, đạt khoảng 1,18 tỷ USD; trong khi máy móc, thiết bị điện và linh kiện đạt 1,05 tỷ USD, tăng 34,03%.
Trong Top 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Campuchia trong 7 tháng đầu năm, ngũ cốc là nhóm duy nhất ghi nhận mức giảm, với kim ngạch 674,9 triệu USD, giảm 27,75% so với cùng kỳ năm trước.
Nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu và máy móc tăng mạnh
Trong cơ cấu hàng nhập khẩu, nhóm hàng nhập khẩu chính là nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất, với kim ngạch khoảng 2,98 tỷ USD, tăng 38,24% YoY.
Đứng thứ hai là máy móc, thiết bị điện và linh kiện, đạt khoảng 2,31 tỷ USD, tăng tới 45,21% YoY.
Nhập khẩu vải dệt hoặc đan móc đạt khoảng 2,05 tỷ USD, tăng nhẹ 0,94% YoY; trong khi nhập khẩu phương tiện giao thông và phụ tùng đạt 1,72 tỷ USD, tăng 27,46% YoY.
Một số nguyên liệu phục vụ sản xuất cũng tăng đáng kể, điển hình là nhôm và các sản phẩm từ nhôm với kim ngạch nhập khẩu tăng 42,16% YoY, đạt khoảng 707 triệu USD; nhập khẩu bông tăng 34,50% YoY, lên 604 triệu USD.
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất
Báo cáo của GDCE cũng chỉ ra, 5 đối tác thương mại hàng đầu của Campuchia trong 7 tháng đầu năm gồm: Trung Quốc, Mỹ, Việt Nam, Nhật Bản và Thái Lan.
Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 13,63 tỷ USD, tăng 23,86% YoY. Campuchia xuất khẩu sang Trung Quốc khoảng 1,10 tỷ USD, tăng 24,19% YoY; trong khi nhập khẩu từ thị trường này lên tới 12,52 tỷ USD, tăng 23,83% YoY.
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Campuchia. Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu của Campuchia sang Mỹ đạt khoảng 9,05 tỷ USD, tăng 30,60% YoY. Nhập khẩu từ Mỹ đạt 376,9 triệu USD, tăng 87% YoY. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều Campuchia - Mỹ đạt khoảng 9,42 tỷ USD, tăng 32,20%.
Việt Nam đứng thứ ba trong nhóm các đối tác thương mại lớn nhất của Campuchia trong 7 tháng đầu năm, với tổng kim ngạch hai chiều khoảng 5,35 tỷ USD, tăng 8,21% YoY. Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam khoảng 2,73 tỷ USD hàng hoá, tăng 12,39% YoY; trong khi nhập khẩu từ Việt Nam đạt khoảng 2,62 tỷ USD, tăng 4,17% YoY.
Nhật Bản đứng thứ tư với tổng kim ngạch khoảng 1,70 tỷ USD, tăng 17,73% YoY. Thái Lan đứng thứ năm với kim ngạch khoảng 1,61 tỷ USD, giảm 32,73% YoY.