![]() |
| Bac A Bank niêm yết mức lãi suất tiền gửi 7,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Ảnh: Mekong ASEAN |
Mặt bằng lãi suất tiết kiệm ghi nhận đà tăng trở lại, với nhiều ngân hàng vượt mốc 7%/năm. Trên thị trường hiện tại, ở kỳ hạn 12 tháng, ACB đang niêm yết mức lãi suất tiết kiệm cao nhất với 7,3%/năm. Theo sau là SaigonBank (7,2%/năm), Bac A Bank (7,1%) và VIB, MBV, VCBNeo và PGBank (7%/năm).
Tại kỳ hạn 9 tháng, ACB tiếp tục là ngân hàng có lãi suất cao nhất với 7,2%/năm. Nhóm theo sau gồm MBV và VCBNeo cùng niêm yết 7%/năm, PGBank áp dụng 6,9%/năm, còn Bac A Bank ở mức 6,85%/năm.
ACB cũng đứng đầu ở kỳ hạn 6 tháng với mức lãi suất 7,1%/năm. Theo sau là MBV và VCBNeo cùng áp dụng mức 7%/năm, trong khi PGBank và SaigonBank niêm yết 6,9%/năm.
Đối với kỳ hạn 3 tháng, mức lãi suất được niêm yết cao nhất trên thị trường hiện là 4,75%/năm tại các ngân hàng ACB, MBV và PGBank.
Tại nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước (VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank), biểu lãi suất huy động dành cho khách hàng cá nhân gửi tại quầy, lĩnh lãi cuối kỳ đang được niêm yết với mức dao động từ 2,1% đến 6%/năm cho các kỳ hạn từ một đến 36 tháng.
Trong nhóm này, Agribank tiếp tục duy trì mức lãi suất cao nhất ở các kỳ hạn dưới 12 tháng. Cụ thể, kỳ hạn 1 - 2 tháng được niêm yết ở mức 2,6%/năm, cao hơn mức 2,1%/năm của BIDV, VietinBank và Vietcombank.
Với kỳ hạn 3 - 5 tháng, Agribank áp dụng lãi suất 2,9%/năm, trong khi ba ngân hàng quốc doanh còn lại cùng niêm yết 2,4%/năm.
Ở kỳ hạn 6 - 11 tháng, Agribank tiếp tục dẫn đầu với lãi suất 4%/năm, vượt mức 3,5%/năm đang được BIDV, VietinBank và Vietcombank áp dụng.
Đối với kỳ hạn 12 tháng, cả 4 ngân hàng quốc doanh đều niêm yết cùng mức lãi suất 5,9%/năm. Tại kỳ hạn 24 tháng, Vietcombank áp dụng lãi suất 6%/năm, tương đương BIDV, VietinBank và Agribank.
Tại cuộc họp họp báo ngành ngân hàng quý 2/2026 diễn ra đầu tháng 7, ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), cho biết tăng trưởng tín dụng của hệ thống trong 5 năm gần đây luôn cao hơn tốc độ huy động vốn khoảng 3-4 điểm %. Tính đến ngày 15/6/2026, tín dụng đã tăng 6,38%, trong khi huy động vốn mới tăng khoảng 4,3%, tạo mức chênh lệch gần 2 điểm %.
Theo ông Quang, việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động khiến tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng duy trì ở mức cao, khoảng 112-117%. Điều này đồng nghĩa cứ huy động được 100 đồng, hệ thống đang cho vay khoảng 112 đồng và phải bù đắp phần thiếu hụt bằng các nguồn vốn khác.
Lãi suất huy động vẫn còn dư địa tăng
Tại báo cáo triển vọng ngành ngân hàng công bố ngày 8/7, Chứng khoán KBSV nhận định áp lực huy động vốn của hệ thống vẫn chưa hạ nhiệt trong nửa đầu năm 2026. Theo KBSV, thanh khoản ngân hàng tiếp tục chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng vượt huy động, trong khi yêu cầu ổn định lạm phát và tỷ giá khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước thu hẹp đáng kể so với năm 2025. Đây là một trong những nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất huy động tăng trong quý đầu năm và tiếp tục duy trì ở mức cao.
Dù vậy, KBSV cho rằng lãi suất huy động nhiều khả năng đã tiến sát vùng đỉnh và sẽ duy trì mặt bằng cao trong quý 3 trước khi hạ nhiệt dần từ đầu quý 4. Kỳ vọng này được đưa ra trên cơ sở áp lực từ giá dầu và lạm phát có thể giảm bớt nếu tình hình địa chính trị quốc tế diễn biến thuận lợi, tỷ giá USD/VND tiếp tục ổn định, giải ngân đầu tư công tăng tốc giúp bổ sung thanh khoản cho hệ thống, cùng với việc các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước nhằm giảm áp lực huy động vốn phát huy hiệu quả từ quý 3/2026.
Đối với lãi suất cho vay, KBSV dự báo xu hướng điều chỉnh sẽ tương đồng với lãi suất huy động nhưng có độ trễ do các ngân hàng cần thời gian hấp thụ chi phí vốn đã tăng trước đó. Việc giảm lãi suất cho vay nếu diễn ra sẽ mang tính chọn lọc, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như sản xuất, xuất khẩu, hạ tầng và các ngành đóng vai trò động lực tăng trưởng kinh tế, trong khi lãi suất đối với các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao được dự báo sẽ giảm chậm hơn.
![]() |
Chia sẻ với Mekong ASEAN, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP HCM (VIFC-HCMC), cho rằng trong 6 tháng cuối năm 2026, lãi suất huy động có thể nhích nhẹ, trong khi lãi suất cho vay khó tăng mạnh do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Theo ông Huân, Ngân hàng Nhà nước hiện phải cùng lúc cân đối ba mục tiêu gồm hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn duy trì chính sách tiền tệ thận trọng, áp lực lên tỷ giá USD/VND chưa hoàn toàn hạ nhiệt, còn tín dụng lại được định hướng tăng trưởng khá cao. Điều này buộc các ngân hàng phải cần thêm nguồn vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay, qua đó khiến lãi suất huy động khó giảm sâu như giai đoạn trước.
Ông Huân dự báo lãi suất huy động có thể tăng nhẹ khoảng 0,2 - 0,5 điểm phần trăm ở một số kỳ hạn trung và dài hạn vào cuối năm, nhất là tại các ngân hàng quy mô nhỏ hoặc những đơn vị có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao. Dù vậy, khả năng xuất hiện một cuộc đua lãi suất huy động trên diện rộng là không lớn, bởi thanh khoản của hệ thống vẫn đang ở mức tương đối dồi dào.
Với lãi suất cho vay, ông cho rằng xu hướng chủ đạo trong thời gian tới vẫn là đi ngang hoặc giảm nhẹ đối với các lĩnh vực ưu tiên. Các ngân hàng hiện chịu áp lực cạnh tranh lớn trong việc tìm kiếm khách hàng tốt, trong khi Chính phủ và NHNN vẫn tiếp tục định hướng giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Vì vậy, mặt bằng lãi suất cho vay khó có khả năng tăng mạnh nếu không xuất hiện một cú sốc lớn từ bên ngoài.
Cùng chung nhận định, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng trong kịch bản cơ sở, lãi suất huy động nhiều khả năng tiếp tục duy trì tương đối ổn định và chỉ có thể tăng nhẹ ở một số kỳ hạn, tùy thuộc vào nhu cầu tín dụng và diễn biến của tỷ giá.
Trong khi đó, dư địa giảm thêm của lãi suất cho vay vẫn còn nhưng không nhiều. Việc tiếp tục giảm lãi suất cần được thực hiện hài hòa, vừa hỗ trợ doanh nghiệp, vừa bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và an toàn của hệ thống ngân hàng.
Về dài hạn, ông Huy cho rằng cần xây dựng một cấu trúc tài chính cân bằng, đa tầng và bền vững hơn. Các ngân hàng phải tiếp tục tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính, phát hành các công cụ huy động vốn dài hạn và tăng cường quản trị rủi ro.
Song song với đó, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và các định chế đầu tư dài hạn cũng cần được phát triển đồng bộ để hình thành các kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế.
Theo ông Huy, nếu các giải pháp này được triển khai đồng bộ, Việt Nam không chỉ có cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nửa cuối năm 2026 mà còn có thể tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khả năng chống chịu cao hơn. Đây mới là điều kiện căn bản để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đi cùng ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững trong những năm tới.