“Cho dù bất kỳ điều gì xảy ra thì người ta cũng phải ăn”, ông Trần Tấn Sỹ, Giám đốc phụ trách Việt Nam của tập đoàn thực phẩm Lootah (UAE), mở đầu phiên thảo luận tại Hội thảo “Nâng tầm giá trị Nông sản và Thực phẩm trong chuỗi cung ứng bền vững” được tổ chức ngày 4/9 tại TP HCM.
Với ông, những bất ổn địa chính trị và đứt gãy logistics đang làm thay đổi cách các thị trường nhìn về nguồn cung thực phẩm. Khi nguồn hàng bị gián đoạn, khả năng cung ứng ổn định trở thành một lợi thế. Từ góc nhìn đó, Lootah xây dựng một trung tâm phân phối tại Abu Dhabi, quy tụ các sản phẩm nông sản và thực phẩm Việt Nam nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định cho UAE và toàn bộ thị trường Trung Đông.
Đây cũng là cơ hội để nông sản Việt Nam tiến sâu hơn vào những thị trường mà trước đây chủ yếu được tiếp cận qua từng đơn hàng nhỏ lẻ. Nhưng để đi xa hơn một đơn hàng hay một container, hàng hóa cần một vị trí lâu dài trong thị trường đích.
Câu chuyện nông sản Việt lên kệ quốc tế thực ra không mới. Nhiều năm qua, gạo, cà phê, trái cây và thực phẩm chế biến Việt Nam đã xuất hiện tại các hệ thống bán lẻ ở nhiều thị trường.
Từ năm 2022, câu chuyện “định danh nông sản Việt” cũng đã được đặt ra để thoát khỏi cảnh hàng xuất khẩu trong những bao tải không tên, rồi được đóng gói dưới thương hiệu của nhà nhập khẩu. Đến nay, câu hỏi đã đi thêm một bước, đó là làm thế nào để hàng Việt Nam không chỉ lên được kệ, mà còn giữ được chỗ, được nhận diện và được người tiêu dùng chủ động tìm mua?
![]() |
| Ảnh minh hoạ nông sản Việt Nam. |
Từ bao tải đến chiếc kệ siêu thị
Góc nhìn về thị trường UAE là một ví dụ đáng chú ý. Ông Sỹ cho biết, nước này nhập khẩu tới 80% lương thực, thực phẩm, với quy mô khoảng 15 tỷ USD năm 2025. Có 77% lượng hàng nhập khẩu của các thành viên Dubai Chambers vào UAE sau đó được tái xuất sang các nước khác trong khu vực.
Điều đó khiến UAE không chỉ là thị trường tiêu dùng. Một sản phẩm đứng được trên kệ ở đây có thể có cơ hội đi tiếp vào cả Trung Đông.
Lulu International Group, hệ thống bán lẻ mà ông Mirash Basheer đại diện, là một tổ chức có mạng lưới nhập khẩu và phân phối khắp Trung Đông như vậy. Khi bất ổn địa chính trị khiến nguồn cung gián đoạn, tập đoàn phải thuê những chuyến bay thuê để đưa hàng về. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên được hỗ trợ bố trí các chuyến bay như vậy, với hơn 5 chuyến bay được thực hiện khi bất ổn địa chính trị ở Trung Đông xảy ra.
Ông Mirash Basheer tiết lộ một câu chuyện gây chú ý hơn. Tập đoàn hiện nhập khoảng 890 mã sản phẩm từ Việt Nam, nhưng chỉ khoảng 100 sản phẩm là nông sản trực tiếp. Phần còn lại chủ yếu là thực phẩm chế biến như nước dừa, bánh, kẹo. Trong số những doanh nghiệp Việt Nam mà Lulu hợp tác, họ vừa mua hàng theo hình thức OEM, vừa mua sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam.
OEM (Original Equipment Manufacturer - Nhà sản xuất thiết bị gốc), là thuật ngữ chỉ các công ty, nhà máy chuyên sản xuất linh kiện, bộ phận hoặc toàn bộ sản phẩm theo đơn đặt hàng của một công ty khác.
Ông Mirash cho biết Lulu ưa thích mua thương hiệu của Việt Nam, bởi mục tiêu không chỉ là bán thêm một sản phẩm mà còn tạo “hiện diện tập thể” trong tâm trí người tiêu dung rằng Việt Nam phải gắn với những sản phẩm tốt.
Trong nhiều năm, lợi thế của Việt Nam thường được kể bằng những con số như đứng thứ mấy khi xuất khẩu gạo, cà phê, điều, hồ tiêu hay một loại trái cây nào đó, với khối lượng bao nhiêu triệu tấn, thu về bao nhiêu tỷ USD. Nhưng một container hàng xuất khẩu và một thương hiệu có mặt thường xuyên trên kệ siêu thị là hai câu chuyện khác nhau.
Người mua không chỉ mua hương vị
Câu chuyện của ông Sven Dekker, đồng sáng lập công ty Vietnam Food Europe BV cho thấy khoảng cách này rõ hơn tại châu Âu. Doanh nghiệp của ông chọn cách không làm OEM, không làm nhãn riêng mà đưa thương hiệu chính thức từ Việt Nam vào thị trường châu Âu. Hiện có khoảng 25 sản phẩm đi theo hướng này.
Đối với mặt hàng cà phê - một sản phẩm rất được người tiêu dùng Châu Âu ưa chuộng, ông Sven Dekker chỉ ra một thực tế. Doanh nghiệp có thể dễ dàng bán hết một container cà phê, hoặc một du khách Châu Âu sau khi đến Việt Nam sẽ vô cùng yêu thích và giữ lại ký ức về hương vị cà phê đó khi trở về nước. Tuy nhiên, để ký ức này thực sự trở thành một thương hiệu đứng vững trên kệ hàng Châu Âu, sản phẩm phải đáp ứng một chuỗi các tiêu chuẩn kỹ thuật vô cùng khắt khe.
Ở châu Âu, dư lượng hóa chất cần được kiểm soát. Một số loại hóa chất, phân bón sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam không được phép tại EU, thực phẩm chế biến cũng phải rà soát các loại phụ gia.
Một vấn đề khác là bài toán về bao bì. Doanh nghiệp Việt có thể làm một sản phẩm phù hợp với người Việt Nam xa quê, nhưng sản phẩm “nhớ nhà” chưa chắc phù hợp với một kệ hàng quốc tế. Theo ông Mirash Basheer, doanh nghiệp muốn đi xa phải thay đổi từ bao bì, nhận diện thương hiệu đến cách trình bày.
![]() |
| Các diễn giả thảo luận tại hội thảo “Nâng tầm giá trị nông sản và thực phẩm trong chuỗi cung ứng bền vững”. Ảnh: BCT. |
Năm khâu để không phải trách “rào cản”
Ông Lê Anh Dũng, lãnh đạo đơn vị có gần bốn thập niên trong ngành nông nghiệp, nhìn vấn đề từ phía doanh nghiệp Việt Nam. Tổng Công ty Rau quả, Nông sản (Vegetexco Việt Nam) do ông làm Tổng Giám đốc được thành lập năm 1988 và hiện xuất khẩu tới 58 quốc gia. Nhưng ông cho rằng khó khăn lớn nhất vẫn là chất lượng sản phẩm không đồng đều.
Giải pháp ông đưa ra không nằm ở một giấy chứng nhận hay một chương trình xúc tiến thương mại. Đó là quản trị toàn chuỗi gồm giống, canh tác, thu hoạch, chế biến rồi mới đến thương mại. “Năm khâu” phải cùng tốt.
Doanh nghiệp cũng cần đa dạng hóa sản phẩm để nếu một mặt hàng gặp vấn đề, có thể chuyển sang mặt hàng khác. Cùng với đó, doanh nghiệp cũng phải đa dạng hóa thị trường bởi chính sách của các nước không phải lúc nào cũng có thể dự đoán, theo vị doanh nhân.
Tuy nhiên, với doanh nghiệp nhỏ, lời khuyên lại khác. Không phải doanh nghiệp nào cũng đủ nguồn lực để kiểm soát cả chuỗi. Thay vì dàn trải, họ nên tập trung vào một khâu và làm thật tốt khâu đó.
Tham vọng lớn hơn một container rời cảng
Khoảng cách giữa một nước xuất khẩu nhiều nông sản và một cường quốc nông nghiệp cũng được PGS.TS. Trần Đình Lý, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm TP HCM, đặt ra. Ông không phủ nhận niềm tự hào về những thứ hạng xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng câu hỏi là điều gì nằm phía sau những con số ấy. Theo ông, có một cách tiếp cận khác là nhờ công nghệ, tiêu chuẩn, thương hiệu và chuẩn quốc tế.
Một bao gạo có thể được bán dưới tên của nhà nhập khẩu, cà phê Việt Nam có thể trở thành nguyên liệu cho một thương hiệu nước ngoài, còn trái cây dù xuất đi hàng nghìn tấn nhưng người tiêu dùng không biết nó đến từ Việt Nam. Sản lượng vì thế chưa phản ánh đầy đủ vị trí của nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị. Đó cũng là lý do câu chuyện “đứng trên kệ” quan trọng không kém số lượng container rời khỏi cảng.
Nhưng đứng được trên kệ chưa phải điểm kết thúc. Để duy trì năng lực cạnh tranh cho thương hiệu, ông Sven Dekker chia sẻ doanh nghiệp của ông phải liên tục thực hiện các hoạt động quảng bá, bán hàng, tiếp thị (sales, marketing) và truyền thông vô cùng tích cực trên các mạng xã hội, cũng như tham gia rất nhiều sự kiện giao thương tại Châu Âu.
Đồng thời, để đáp ứng đơn hàng ngay ngày hôm sau cho khách mua, họ luôn phải duy trì một lượng hàng tồn kho sẵn có tại hệ thống kho bãi. Với họ, giữ một vị trí trên kệ đồng nghĩa với việc liên tục đầu tư để duy trì sự hiện diện và khả năng đáp ứng thị trường.