Back to homepage
23/10/2026 09:54

Những câu hỏi ấy cho thấy sản xuất nhiều chưa đồng nghĩa với khả năng tự chủ cao. Một doanh nghiệp có thể sản xuất sản lượng rất lớn nhưng vẫn ở thế thụ động nếu công nghệ, nguyên liệu hay thị trường đầu ra đều do đối tác bên ngoài chi phối. Để chuyển từ vị thế "làm thuê" sang một tọa độ cao hơn trong chuỗi giá trị, doanh nghiệp bắt buộc phải tích lũy những năng lực cốt lõi giúp mình chủ động lựa chọn công nghệ, đa dạng hóa thị trường và giữ vai trò bình đẳng trong các mối quan hệ hợp tác.

Khi Việt Nam hướng tới các mục tiêu phát triển lớn vào năm 2030 và 2045, bài toán tự chủ ấy không còn là câu chuyện riêng lẻ của từng nhà máy. Nền kinh tế đang đòi hỏi một lực lượng doanh nghiệp nội địa đủ sức đầu tư dài hạn, liên tục nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế. Cùng với đó, quốc gia cần xây dựng một hệ sinh thái thể chế thuận lợi – nơi các doanh nghiệp không chỉ hình thành, trưởng thành mà còn tạo ra bệ phóng phát triển cho nhiều doanh nghiệp khác.

Càng hội nhập sâu rộng, sự lớn mạnh của lực lượng doanh nghiệp trong nước càng đóng vai trò quyết định đối với khả năng giữ thế chủ động và nâng cao vị thế của nền kinh tế. Để làm được điều này, nền kinh tế cần sự xuất hiện của những doanh nghiệp đóng vai trò "sếu đầu đàn" – những đơn vị có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư bài bản cho nghiên cứu và phát triển (R&D), nhân lực chất lượng cao, công nghệ và thị trường. Song song với đó là một hệ thống doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ (SMEs) đủ năng lực tham gia sâu vào các chuỗi sản xuất. Những khoản đầu tư chiến lược này thường mất nhiều năm mới đơm hoa kết trái, đòi hỏi doanh nghiệp phải có bản lĩnh kiên trì theo đuổi, ngay cả khi hiệu quả chưa thể hiện ngay trên báo cáo doanh thu hay lợi nhuận ngắn hạn.

Vì vậy, câu hỏi "doanh nghiệp phải lớn đến đâu" cần được giải đáp trên cả hai phương diện: quy mô và năng lực. Quy mô tạo ra nguồn lực để thực hiện những dự án lớn mà doanh nghiệp nhỏ không thể đảm đương. Trong khi đó, năng lực công nghệ, quản trị và thị trường mới là yếu tố quyết định doanh nghiệp có chuyển hóa nguồn lực đó thành sức cạnh tranh bền vững hay không. Máy móc có thể mua, vốn có thể huy động, nhưng đội ngũ kỹ thuật lành nghề, năng lực tổ chức sản xuất tinh gọn và uy tín thương hiệu thì bắt buộc phải tích luỹ qua thời gian.

Nghị quyết 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, khu vực tư nhân đóng góp 55–58% GDP và năng suất lao động tăng bình quân 8,5–9,5%/năm. Những chỉ số này đặt ra hai yêu cầu song hành: vừa mở rộng, vừa nâng cao chất lượng. Mối quan hệ giữa các tập đoàn lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa cần được xây dựng trên cơ sở cùng phát triển. Để tổ chức chuỗi sản xuất hiệu quả, doanh nghiệp lớn cần những nhà cung ứng trong nước đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tiến độ và khả năng cải tiến.

Ở chiều ngược lại, những đơn hàng ổn định và cam kết hợp tác dài hạn giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ sở đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ và nâng trình độ quản trị. Khi sự lớn mạnh của tập đoàn tạo điều kiện cho các nhà cung ứng cùng trưởng thành, nền kinh tế sẽ có thêm năng lực sản xuất trong nước, từng bước tăng khả năng làm chủ các khâu quan trọng trong chuỗi giá trị.

Trong hai năm qua, nhiều chủ trương quan trọng đã được ban hành nhằm tạo dựng mô hình phát triển mới. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển, Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa trực tiếp, từ cách nền kinh tế vận hành đến vai trò của từng khu vực kinh tế.

Nghị quyết 19-NQ/TW xác định đổi mới mô hình phát triển trước hết phải tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo ra năng lực phát triển mới. Đặt thể chế ở vị trí đầu tiên có ý nghĩa quan trọng: muốn doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn, ứng dụng công nghệ và nâng năng suất, môi trường mà họ hoạt động cũng phải được cải thiện tương ứng.

Một doanh nghiệp có phương án sản xuất tốt vẫn khó triển khai nếu thiếu mặt bằng. Có mặt bằng nhưng không huy động được vốn, dự án tiếp tục phải chờ. Có vốn và máy móc nhưng thiếu đội ngũ vận hành, hiệu quả đầu tư sẽ bị giới hạn. Năng lực phát triển mới chỉ hình thành khi những điều kiện ấy được kết nối, giúp doanh nghiệp đưa nguồn lực vào hoạt động thực tế.

Với kinh tế Nhà nước, Nghị quyết 79-NQ/TW đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý; phát huy vai trò trong bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp Nhà nước thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, 1–3 doanh nghiệp thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; đồng thời yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Mục tiêu về quy mô vì thế đi cùng yêu cầu về chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động.

Vai trò dẫn dắt cần được thể hiện qua khả năng tạo nền tảng cho các hoạt động kinh tế khác. Những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực then chốt có thể cung cấp hạ tầng và dịch vụ thiết yếu cho sản xuất. Những dự án lớn có thể tạo nhu cầu về thiết bị, vật liệu, công nghệ và nhân lực. Khi doanh nghiệp trong nước có cơ hội đáp ứng các nhu cầu ấy, giá trị của đầu tư sẽ lan rộng hơn phạm vi một tập đoàn.

Nghị quyết 68-NQ/TW mở ra định hướng phát triển kinh tế tư nhân thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trong đó, việc phát triển những tập đoàn tư nhân lớn, mạnh, ngang tầm khu vực và thế giới được đặt cùng yêu cầu hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hợp tác, hộ kinh doanh tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ và thị trường.

Ba nghị quyết cần được triển khai trong mối liên hệ ấy: đổi mới cách nền kinh tế vận hành, nâng hiệu quả của kinh tế Nhà nước và khơi thông sức phát triển của khu vực tư nhân. Mỗi khu vực có vai trò riêng, nhưng đều phải nâng năng lực để đóng góp vào các mục tiêu chung.

Để hình thành nên các tập đoàn công nghiệp – công nghệ đủ sức cạnh tranh quốc tế, chính sách quốc gia phải thực hiện song song hai nhiệm vụ: vừa tạo đòn bẩy hỗ trợ tích lũy, vừa duy trì môi trường cạnh tranh minh bạch. Hỗ trợ giúp doanh nghiệp vượt qua rào cản nguồn lực ban đầu; cạnh tranh tạo ra áp lực đào thải, buộc doanh nghiệp phải quản trị hiệu quả, liên tục đổi mới sáng tạo để đáp ứng thị trường.

Trước hết, môi trường kinh doanh phải bảo vệ triệt để quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và tính nghiêm minh trong thực thi hợp đồng. Nhờ tính dự báo cao của pháp luật, doanh nghiệp mới yên tâm rót vốn vào các khoản đầu tư dài hạn chưa thể sinh lời ngay như nghiên cứu phát triển (R&D), đào tạo nhân lực hay phát triển thương hiệu.

Cùng với đó, cần kiên quyết xóa bỏ cơ chế "xin – cho", loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm", và chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm (cấp phép) sang hậu kiểm gắn với công bố điều kiện kinh doanh. Việc khắc phục tình trạng thanh tra, kiểm tra chồng chéo sẽ giúp doanh nghiệp giảm tối đa chi phí tuân thủ, giải phóng thời gian và nguồn lực để tập trung cho sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó, các vướng mắc về vốn, mặt bằng và nhân lực cần những giải pháp hỗ trợ thực chất. Các Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ Phát triển SMEs hay chính sách mặt bằng tại các khu công nghiệp, vườn ươm công nghệ phải được thiết kế sao cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận. Thước đo chất lượng của chính sách không nằm ở tham vọng trên văn bản, mà nằm ở tính thuận tiện và thời gian xử lý thực tế cho doanh nghiệp.

Một môi trường thể chế vượt trội chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp doanh nghiệp tích lũy được những năng lực mới: làm chủ một công nghệ lõi, thương mại hóa một sản phẩm phức tạp, đào tạo một đội ngũ kỹ sư giỏi hay khai phá một thị trường quốc tế. Đó là thời điểm cải cách thể chế chuyển hóa trực tiếp thành sức mạnh nội tại của nền kinh tế.

Sự trưởng thành của một doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở quy mô doanh thu hay lợi nhuận, mà thể hiện qua những khoản đầu tư cho tương lai: chi phí đào tạo người lao động, thời gian nghiên cứu sản phẩm hay sự kiên trì giữ chữ "Tín" với đối tác ngay cả khi phải chịu thiệt thòi ngắn hạn. Những lựa chọn mang tính chiến lược đó sẽ tạo dựng nên nền tảng niềm tin và năng lực cạnh tranh dài hạn.

Đặc biệt, đối với các tập đoàn có tham vọng dẫn dắt, thước đo trưởng thành nằm ở giá trị lan tỏa hệ sinh thái. Một hợp đồng dài hạn từ 'sếu đầu đàn' chính là 'tấm bảo hiểm' để các nhà cung ứng nhỏ yên tâm rót vốn nâng cấp công nghệ và mở rộng quy mô. Một tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe từ doanh nghiệp dẫn dắt chính là đòn bẩy buộc toàn bộ chuỗi phụ trợ phải tự nâng cấp quy trình và chuẩn hóa năng lực. Khi đó, thành công của một doanh nghiệp không còn là thắng lợi đơn lẻ của một thương hiệu, mà trở thành bệ phóng phát triển cho toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp đồng hành, biến sức mạnh cá thể thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đến mốc 2030 hay 2045, tính tự chủ của nền kinh tế Việt Nam sẽ được minh chứng bằng những câu hỏi rất cụ thể: Doanh nghiệp Việt Nam làm chủ được những công nghệ gì? Tổ chức được những chuỗi giá trị nào? Và sở hữu vị thế ra sao trên bản đồ kinh tế toàn cầu?

Những năng lực ấy đang được tích lũy từ chính những quyết định đầu tư R&D hôm nay, từ mỗi sản phẩm, quy trình được nâng cấp và mỗi quan hệ hợp tác nội địa được gây dựng. Một nền kinh tế tự chủ không cần những "ngôi sao" độc hành, mà cần một hệ sinh thái doanh nhân cùng chung tầm nhìn – nơi mỗi mắt xích đều tự cường, và cả chuỗi liên kết đủ sức mạnh để đưa dân tộc đi xa.

Lãnh đạo FPT Retail chia sẻ về định hướng phát triển chuỗi Long Châu

Lãnh đạo FPT Retail chia sẻ về định hướng phát triển chuỗi Long Châu

Nguyên nhân khiến lợi nhuận TPS đi xuống dù doanh thu tăng

Nguyên nhân khiến lợi nhuận TPS đi xuống dù doanh thu tăng

Ông Trump: Mỹ hiện không đàm phán với Iran, sẽ sớm có diễn biến mới

Ông Trump: Mỹ hiện không đàm phán với Iran, sẽ sớm có diễn biến mới

Ông Putin tuyên bố Nga có thể đạt thỏa thuận về xung đột với Ukraine

Ông Putin tuyên bố Nga có thể đạt thỏa thuận về xung đột với Ukraine

Tập trung hoàn thành các công trình phục vụ APEC 2027 đúng cam kết

Tập trung hoàn thành các công trình phục vụ APEC 2027 đúng cam kết

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dự tọa đàm cấp cao với doanh nghiệp châu Âu và Bỉ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước dự tọa đàm cấp cao với doanh nghiệp châu Âu và Bỉ

Quốc hội thảo luận về Luật Đấu thầu (sửa đổi)

Quốc hội thảo luận về Luật Đấu thầu (sửa đổi)

Việt Nam và Singapore cùng hướng tới những động lực tăng trưởng mới

Việt Nam và Singapore cùng hướng tới những động lực tăng trưởng mới

Thương mại Việt Nam - Bỉ đạt gần 3,5 tỷ USD trong 9 tháng

Thương mại Việt Nam - Bỉ đạt gần 3,5 tỷ USD trong 9 tháng

Không còn khoản lãi bán tàu, Vosco báo lợi nhuận quý 3 giảm 42%

Không còn khoản lãi bán tàu, Vosco báo lợi nhuận quý 3 giảm 42%

Đề xuất cho doanh nghiệp

Đề xuất cho doanh nghiệp 'chốt' giá đất sớm để giảm chi phí đầu tư

Hữu Nghị Food: Doanh thu tăng nhưng lợi nhuận vẫn giảm mạnh

Hữu Nghị Food: Doanh thu tăng nhưng lợi nhuận vẫn giảm mạnh

Để trái phiếu thực sự trở thành kênh vốn dài hạn cho doanh nghiệp

Để trái phiếu thực sự trở thành kênh vốn dài hạn cho doanh nghiệp

Kiến thiết tương lai: Mở đường cho một mô hình phát triển mới

Kiến thiết tương lai: Mở đường cho một mô hình phát triển mới

Thủ tướng: Chuyển tư duy từ sở hữu nhà sang bảo đảm người dân có chỗ ở

Thủ tướng: Chuyển tư duy từ sở hữu nhà sang bảo đảm người dân có chỗ ở

Lãi dịch vụ tăng gần 4 lần, LPBank báo 4.448 tỷ đồng lợi nhuận quý 3

Lãi dịch vụ tăng gần 4 lần, LPBank báo 4.448 tỷ đồng lợi nhuận quý 3

Nhật Bản viện trợ 646 triệu Yên tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển

Nhật Bản viện trợ 646 triệu Yên tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển

V-Green đưa vào vận hành trạm sạc ô tô điện lớn nhất Việt Nam

V-Green đưa vào vận hành trạm sạc ô tô điện lớn nhất Việt Nam

Sắc đỏ lấn át thị trường, cổ phiếu họ Vingroup nâng đỡ VN-Index

Sắc đỏ lấn át thị trường, cổ phiếu họ Vingroup nâng đỡ VN-Index

Mục tiêu xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2030

Mục tiêu xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2030