Chương trình hướng đến xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo(AI); từng bước hình thành phương thức sản xuất mới, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển xanh và bền vững. Đồng thời, kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
Về kinh tế số, chương trình đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; ít nhất có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt được kỳ vọng đạt mức gấp 30 lần GDP. Trong lĩnh vực giáo dục, tỷ trọng quy mô đào tạo các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong giáo dục đại học đạt 40%.
Đối với xã hội số, Việt Nam đặt mục tiêu 100% hộ gia đình được tiếp cận Internet băng rộng cáp quang tốc độ 1Gb/s; mạng di động 5G đạt tốc độ tối thiểu 100 Mb/s và phủ sóng tới 99% dân số.
Toàn bộ công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên sẽ được cấp căn cước và tài khoản định danh điện tử; 95% người dân từ 15 tuổi trở lên sở hữu tài khoản thanh toán tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép cung ứng dịch vụ tương tự; hơn 70% người từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân.
Ngoài ra, ít nhất 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động sẽ được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản trong giai đoạn này.
Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để đạt được những mục tiêu trên, chương trình đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết, hoàn thiện thể chế về dữ liệu, phát triển kinh tế dữ liệu; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Song song với đó là phát triển hạ tầng số đồng bộ, an toàn, bảo đảm kết nối số toàn dân và tạo nền tảng cho kinh tế số, xã hội số. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư các hạ tầng số chiến lược và hạ tầng số công cộng thiết yếu; doanh nghiệp phát triển các hạ tầng số khác theo cơ chế thị trường.
Chương trình cũng đặt trọng tâm vào xây dựng các nền tảng số dùng chung, nền tảng số quốc gia và hệ sinh thái số do Việt Nam làm chủ, ưu tiên giải quyết các bài toán kinh tế, xã hội và môi trường mang tính liên ngành, liên vùng. Khuyến khích doanh nghiệp phát triển nền tảng số theo mô hình dịch vụ, mở API, kết nối liên thông, hình thành hệ sinh thái số theo từng ngành, lĩnh vực.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển kinh tế dữ liệu, đưa dữ liệu trở thành nguồn lực mới của tăng trưởng kinh tế số. Các giải pháp bao gồm xây dựng và kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển dữ liệu mở; hình thành thị trường dữ liệu; thí điểm sàn giao dịch dữ liệu, hoàn thiện cơ chế về tài sản dữ liệu và thúc đẩy khai thác dữ liệu phục vụ đổi mới sáng tạo. Xây dựng các tình huống khai thác, sử dụng, tái sử dụng dữ liệu trong các hoạt động kinh tế - xã hội trên môi trường số.
Đối với AI, chương trình xác định đây là công nghệ nền tảng có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất lao động và hiệu quả quản trị. Mỗi Bộ, ngành sẽ lựa chọn những bài toán trọng điểm có thể giải quyết hiệu quả bằng AI để triển khai thí điểm, đánh giá và nhân rộng.
![]() |
| Chương trình yêu cầu thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, tối ưu hóa vận hành. Ảnh minh hoạ: Hà Anh/Mekong ASEAN. |
Về an ninh mạng, chương trình yêu cầu triển khai mô hình bảo vệ nhiều lớp, tăng cường giám sát và ứng cứu sự cố; xây dựng hệ sinh thái tín nhiệm mạng và phát triển thị trường bảo hiểm an ninh mạng. Xây dựng các trung tâm an ninh mạng theo chuẩn quốc tế; ban hành các tiêu chuẩn an toàn cho các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, điện toán đám mây, dữ liệu lớn và các công nghệ tiên tiến khác.
Chương trình cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực số toàn diện, từ đội ngũ chuyên gia công nghệ đến lực lượng lao động có kỹ năng số, đồng thời đẩy mạnh thu hút công nghệ, tri thức và nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ.
Về xã hội số, chương trình yêu cầu mở rộng các tiện ích trên nền tảng VNeID phục vụ người dân, doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu khác, từng bước nghiên cứu khả năng liên thông, công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực.
Ngoài ra, chương trình thúc đẩy quản trị dựa trên dữ liệu thời gian thực, hoàn thiện cơ chế quản trị nền tảng số và phát triển các thị trường mới phục vụ kinh tế số như thị trường dữ liệu, đổi mới sáng tạo và công nghệ, tín chỉ carbon, sàn giao dịch tài sản cùng các tổ chức định giá độc lập, phân tích và cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng. Việc thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, dịch vụ mới cũng sẽ được đẩy mạnh nhằm nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Việt Nam được đánh giá là nền kinh tế số có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực trong 3 năm qua và có khả năng đạt mục tiêu đóng góp 30% vào GDP vào năm 2030. |
Nêu các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ thời gian tới, Thủ tướng Lê Minh Hưng chỉ rõ phải ưu tiên nguồn lực, tăng tỷ trọng chi phát triển công nghệ chiến lược, công nghệ cao, công nghệ lõi. |
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định 982/QĐ-TTg ngày 4/6/2026 phê duyệt Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. |
Chương trình Đề án 06 hướng tới mục tiêu người dân được thụ hưởng các dịch vụ số theo hướng cá nhân hóa, tự động và thuận tiện theo từng sự kiện trong cuộc sống. |