Theo báo cáo kinh tế - xã hội của Cục Thống kê công bố sáng 6/5, tháng 4/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam ước đạt 94,3 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước (YoY).
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 45,5 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ; nhập khẩu ở mức 48,8 tỷ USD, tăng 32,5% YoY.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 344,1 tỷ USD, tăng 24,2% YoY. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 168,5 tỷ USD, tăng 19,7% YoY; nhập khẩu đạt 175,6 tỷ USD, tăng 28,7% YoY; nhập siêu 7,1 tỷ USD.
Bốn mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam có 4 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị từ 10 tỷ USD trở lên với tổng 97,7 tỷ USD, chiếm 58% giá trị xuất khẩu hàng hóa trong kỳ.
Cụ thể, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với 43,6 tỷ USD, tăng tới 49,1% so với cùng kỳ. Ba mặt hàng đứng sau lần lượt là điện thoại và linh kiện với 21,5 tỷ USD, tăng 21,1% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 20,6 tỷ USD, tăng 20,5% YoY và dệt may với 11,9 tỷ USD, tăng 1,6% YoY.
Trong kỳ, Việt Nam còn có 20 mặt hàng xuất khẩu khác có kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên. Một số mặt hàng có mức tăng trưởng cao như phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 13,2% YoY, lên 6,1 tỷ USD; đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 47,2% YoY, đạt 2,6 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu tăng 37,3% YoY, đạt 1,08 tỷ USD; sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ tăng 19,6% YoY, đạt 1,43 tỷ USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 18,1% YoY, đạt 2,8 tỷ USD; dây điện và cáp điện tăng 14,7% YoY, lên 1,5 tỷ USD.
Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu giày dép giảm 3,7% YoY, xuống còn 7,3 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép giảm 1,2% YoY, đạt 1,8 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,1% YoY, ở mức 5,3 tỷ USD.
Trong nhóm nông thủy sản, kim ngạch xuất khẩu cà phê giảm 7,1% YoY, đạt 3,6 tỷ USD; gạo giảm 12,7% YoY, còn 1,5 tỷ USD; hạt điều giảm 3,5% YoY, ở mức 1,2 tỷ USD.
Thủy sản xuất khẩu trong kỳ mang về 3,5 tỷ USD, tương ứng tăng 10,4% so với cùng kỳ; rau quả tăng 21,5% YoY, đạt 2,04 tỷ USD; hạt tiêu tăng 22,1% YoY, lên 621 triệu USD; sắn và sản phẩm của sắn tăng 29,3% YoY, đạt 628 triệu USD; chè tăng nhẹ 0,02% YoY, đạt 58 triệu USD.
Trong kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu dưới tỷ USD có tăng trưởng biến động mạnh như xăng dầu giảm 66,4% YoY, còn 118 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 51,9% YoY, lên 590 triệu USD; thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh tăng 19,7% YoY, đạt 499 triệu USD.
Nhập khẩu nhiều mặt hàng tăng trưởng cao
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 175,6 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước. Hai mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch trên 10 USD, lần lượt là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 65,2 tỷ USD, tăng tới 52,3% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 21,1 tỷ USD, tăng 20,2% YoY.
Tổng kim ngạch hai mặt hàng trên đạt 86,3 tỷ USD, chiếm 49% giá trị nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ.
Một số mặt hàng nhập khẩu lớn khác có mức tăng trưởng cao như xăng dầu tăng tới 105% YoY, lên 4,5 tỷ USD; sản phẩm khác từ dầu mỏ tăng 137% YoY, lên 1,3 tỷ USD.
Kim loại thường khác nhập khẩu cũng tăng 31,1% YoY, lên 4,6 tỷ USD; hóa chất tăng 20,6% YoY, đạt 3,1 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm chất dẻo cũng tăng 18,3% YoY, lên mức 3,6 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 26,3% YoY, đạt 2,8 tỷ USD; sản phẩm từ kim loại thường khác tăng 27,4% YoY, lên 1,6 tỷ USD.
Ô tô nhập khẩu trong kỳ tăng 37,7% so với 4 tháng đầu năm 2025, ở mức 4,2 tỷ USD. Trong đó, ô tô nguyên chiếc đạt 1,81 tỷ USD, tăng 29,6% YoY.
Một số mặt hàng nhập khẩu lớn có mức giảm như vải giảm 7,7% YoY, ở mức 4,4 tỷ USD; điện thoại và linh kiện giảm 11,1% YoY, còn 3,03 tỷ USD; sắt thép giảm 3% YoY, đạt 3,4 tỷ USD.
Ở nhóm may mặc, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may tăng nhẹ 0,8% YoY, lên 2,3 tỷ USD; sợi dệt tăng 8,6% YoY, ở mức 978 triệu USD; bông giảm 13,7% YoY, còn 930 triệu USD.
Trong nhóm nông thủy sản, Việt Nam chi 2 tỷ USD để nhập khẩu hạt điều, tăng 22,4% YoY; ngô với 1,07 tỷ USD, tăng 39,6% YoY; lúa mì với 1,04 tỷ USD, tăng tới 64,2% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu thủy sản tăng nhẹ 1,7% YoY, lên mức 1,04 tỷ USD; rau quả tăng mạnh 32,1% YoY, đạt 1,04 tỷ USD. Đậu tương và sữa, sản phẩm sữa tăng lần lượt 82,6% YoY và 25,3% YoY, đạt 581 triệu USD và 566 triệu USD.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng 4/2026 ước đạt 471.600 tấn, tăng 4,8%, trong đó sản lượng cá tra tăng 3,8% và tôm tăng 8%. |