Ngày 2/10, Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) phối hợp với Công ty công nghệ Agibot (Trung Quốc), Tập đoàn Công nghệ Giáo dục Cự Đại Quảng Tây và Công ty công nghệ ECOLIV Technology tổ chức Hội nghị AI hiện thân Việt Nam lần thứ nhất.
![]() |
| Các đại biểu cùng robot thực hiện nghi thức khai mạc Hội nghị AI hiện thân Việt Nam lần thứ nhất. Ảnh: BTC. |
Phát biểu tại hội nghị, ông Hoàng Trung Hiếu, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) cho rằng trí tuệ nhân tạo (AI) đang dịch chuyển từ không gian số sang môi trường vật lý.
Theo ông Hiếu, nếu trước đây, AI chủ yếu được ứng dụng trong xử lý dữ liệu, ngôn ngữ và hình ảnh trên không gian số, thì hiện nay công nghệ này đang được tích hợp vào robot, thiết bị tự hành và dây chuyền sản xuất thông minh, cho phép máy móc cảm nhận, ra quyết định và tương tác trực tiếp với môi trường vật lý.
Khác với các mô hình trí tuệ nhân tạo tạo sinh hay chatbot thuần túy, AI hiện thân (Embodied AI) là sự kết hợp giữa năng lực nhận thức, xử lý dữ liệu ra quyết định của AI với khả năng tương tác vật lý thông qua robot và thiết bị thông minh.
| Video robot hình người Agibot của Trung Quốc trình diễn tại Hội nghị AI hiện thân Việt Nam lần thứ nhất diễn ra ngày 2/10. Video: Hà Anh/Mekong ASEAN. |
Trên thế giới, AI hiện thân được ứng dụng nhiều nhất trong các lĩnh vực như nhà máy, kho vận, logistics, hầm mỏ, nhà hàng và y tế. Theo báo cáo của Liên đoàn Robot Quốc tế (IFR) công bố hồi tháng 9/2025, thế giới lắp đặt 542.000 robot công nghiệp trong năm 2024, cao hơn gấp hai lần so với 10 năm trước. Đây cũng là năm thứ tư liên tiếp số lượng robot công nghiệp được lắp đặt vượt mốc 500.000 chiếc.
Tính đến cuối năm 2024, tổng số robot công nghiệp đang hoạt động trên toàn cầu đạt 4,66 triệu chiếc, tăng 9% so với năm trước đó. Trong đó, châu Á chiếm 74% tổng số robot được lắp đặt mới. Trung Quốc là thị trường lớn nhất, với 295.000 robot, tương đương 54% tổng lượng lắp đặt toàn cầu.
Không chỉ mở rộng về quy mô ứng dụng, AI hiện thân còn được dự báo có tiềm năng phát triển thành thị trường hàng nghìn tỷ USD. Theo ước tính của Goldman Sachs, thị trường robot hình người có thể đạt 138 tỷ USD vào năm 2035. Trong khi đó, Morgan Stanley dự báo quy mô thị trường này có thể lên tới 5.000 tỷ USD vào năm 2050.
Theo ông Hoàng Trung Hiếu, AI hiện thân được kỳ vọng tạo ra những thay đổi đáng kể về năng suất lao động trong các lĩnh vực công nghiệp chế tạo, logistics, nông nghiệp, y tế và dịch vụ. Công nghệ này đồng thời có thể góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động, nâng cao an toàn lao động và cải thiện chất lượng tăng trưởng.
AI hiện thân đã có những ứng dụng ban đầu tại Việt Nam
Chia sẻ về thực trạng phát triển AI hiện thân tại Việt Nam, ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia cho biết lĩnh vực này đã có những ứng dụng ban đầu trong nước, không phải là một khái niệm hoàn toàn mới.
Ông dẫn ví dụ về việc Tập đoàn Viettel từng thí điểm sử dụng robot lễ tân để đưa nước vào các phòng họp. Gần đây, một số doanh nghiệp đã đưa robot hình chó vào ứng dụng thực tế, trong khi một số đơn vị khác bắt đầu sử dụng robot hình người.
Tuy nhiên, theo ông Thịnh, mức độ phát triển và ứng dụng AI hiện thân tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Trong khi các công cụ AI chatbot như ChatGPT đã được doanh nghiệp quan tâm ứng dụng, robot có khả năng tương tác trực tiếp với môi trường vật lý vẫn chưa được triển khai rộng rãi.
![]() |
| Ông Đỗ Tiến Thịnh, Phó Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia phát biểu tại sự kiện. Ảnh: BTC. |
Dù vậy, ông Thịnh đánh giá Việt Nam vẫn có những lợi thế nhất định để phát triển AI hiện thân, gồm nền tảng sản xuất, lực lượng lao động trẻ và vị trí địa lý thuận lợi cho kết nối với các thị trường trong khu vực.
Theo ông Thịnh, cơ hội phát triển AI hiện thân tại Việt Nam tập trung vào 3 hướng chính. Thứ nhất, ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất trong các ngành chế biến, chế tạo, logistics và nông nghiệp, gắn với mục tiêu tăng năng suất 10 - 15% trong Chiến lược quốc gia về AI đến năm 2030.
Thứ hai, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Việt Nam không chỉ dừng lại ở hoạt động lắp ráp mà còn hướng tới các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như sản xuất linh kiện, cơ khí chính xác, chip chuyên dụng, phát triển phần mềm tích hợp và dữ liệu huấn luyện.
Thứ ba, thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thế hệ mới, trong đó có các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D).
Ba hướng phát triển AI hiện thân tại Việt Nam
Để hiện thực hóa những cơ hội này, Phó Giám đốc NIC Đỗ Tiến Thịnh đề xuất 3 nhóm giải pháp chính. Trước hết, Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng chương trình chính sách riêng dành cho AI hiện thân, tách biệt với chiến lược chung về AI và đi kèm kế hoạch hành động cụ thể, bởi đặc thù của AI hiện thân rất khác so với các lĩnh vực AI khác.
Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo liên ngành giữa robot và AI, qua đó tạo điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của lĩnh vực này.
Một giải pháp khác là nghiên cứu triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) dành riêng cho AI hiện thân, đồng thời ưu tiên nguồn lực từ mục tiêu bố trí 0,6% chi ngân sách Nhà nước cho AI.
Ngoài hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), ông Thịnh cho rằng Nhà nước cần xem xét cơ chế đặt hàng, trở thành khách hàng đầu tiên (First Customer) đối với các sản phẩm và giải pháp AI hiện thân. Đây được xem là một trong những yếu tố có thể thúc đẩy doanh nghiệp nghiên cứu, phát triển và đưa sản phẩm ra thị trường.
Trong khuôn khổ hội nghị, đã diễn ra các lễ ký kết hợp tác chiến lược giữa Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Cơ khí ô tô (Đại học Công nghiệp Hà Nội), Hiệp hội Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam với các đối tác giáo dục nước ngoài. Các nội dung ký kết hợp tác gồm xây dựng chương trình đào tạo, phát triển phòng thí nghiệm liên kết, đào tạo giảng viên, tổ chức hoạt động thực hành cho sinh viên và triển khai các dự án nghiên cứu. Các hoạt động hợp tác này hướng tới tăng cường điều kiện nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực AI hiện thân tại các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời góp phần phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tại Việt Nam. |