Ngày 19/10, trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Thụy Sĩ 2026 (SVEF 2026) tại Hà Nội, phiên thảo luận với chủ đề “Từ dấu ấn FTA đến cơ hội thị trường” tập trung làm rõ những lĩnh vực hợp tác tiềm năng giữa Việt Nam và Thụy Sĩ, đồng thời đề xuất giải pháp để doanh nghiệp hai nước tận dụng hiệu quả các cơ hội do hiệp định thương mại tự do mang lại.
![]() |
| Phiên thảo luận có sự tham gia của đại diện Switzerland Global Enterprise (S-GE), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và CTCP Tập đoàn Công nghệ CMC. Ảnh: Mộc An/Mekong ASEAN. |
Đưa Hiệp định Việt Nam - EFTA từ cam kết thành kết quả kinh doanh thực tế
Phát biểu tại phiên thảo luận, TS Philipp Rosler - Chủ tịch SVEF nhấn mạnh yêu cầu chuyển những cơ hội được mở ra từ hiệp định thương mại thành các kết quả kinh doanh cụ thể thông qua quan hệ đối tác giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước.
Đồng quan điểm, bà Anja Fiedler – Giám đốc điều hành của S-GE, cho rằng cơ hội lớn nhất nằm ở việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác thực chất.
Thông tin về tổ chức của mình, bà chia sẻ S-GE hỗ trợ doanh nghiệp Thụy Sĩ xuất khẩu sang Việt Nam, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường và thiết lập hoạt động kinh doanh tại Thụy Sĩ.
Theo bà Fiedler, trước thời điểm ký kết hiệp định, số lượng doanh nghiệp Thụy Sĩ được S-GE hỗ trợ và số dịch vụ tổ chức cung cấp đều tăng gấp đôi so với giai đoạn trước đó. Bà kỳ vọng mức độ quan tâm này sẽ tiếp tục tăng khi doanh nghiệp khai thác những cơ hội mới từ FTA.
Ở góc độ doanh nghiệp Việt Nam, ông Nguyễn Quang Vinh – Phó Chủ tịch VCCI, nhận định hợp tác với Thụy Sĩ có thể giúp doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ, kinh nghiệm quản trị và phương thức sản xuất tiên tiến. Ngược lại, thị trường Việt Nam cũng mở ra dư địa kinh doanh và đầu tư cho doanh nghiệp Thụy Sĩ.
Công nghệ, công nghiệp và tài chính là những lĩnh vực giàu tiềm năng
![]() |
| Bà Anja Fiedler – Giám đốc điều hành của S-GE chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: Mộc An/Mekong ASEAN. |
Về các lĩnh vực có thể thúc đẩy hợp tác, bà Anja Fiedler cho rằng các doanh nghiệp Thụy Sĩ có thế mạnh trong nhiều lĩnh vực gồm máy móc, công nghiệp chế tạo, dược phẩm, công nghệ sinh học, thiết bị y tế, công nghệ thông tin, thực phẩm và hạ tầng. Tuy nhiên, việc lựa chọn lĩnh vực để thúc đẩy hợp tác cần xuất phát từ nhu cầu và chiến lược cụ thể của từng doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Quang Vinh cũng đề cập đến tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực ngân hàng, cổ phiếu, vốn cổ phần tư nhân, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ sinh học, du lịch và quản trị khách sạn. Bên cạnh đó, kinh nghiệm của Thụy Sĩ về phát triển bền vững và thực hành các tiêu chuẩn ESG có thể hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ở lĩnh vực công nghệ, ông Nguyễn Cao Cường – Phó Chủ tịch CMC nhận định,Việt Nam có thể trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các doanh nghiệp công nghệ Thụy Sĩ nhờ thị trường nội địa lớn, lực lượng lao động trẻ và khả năng tiếp nhận công nghệ mới.
“Thụy Sĩ luôn nổi tiếng về công nghệ. Vì vậy, nếu hai bên có thể xây dựng một khuôn khổ hợp tác hoặc một chương riêng về công nghệ trong hiệp định, đây sẽ là cơ hội rất lớn để doanh nghiệp Thụy Sĩ tiếp cận Việt Nam nói riêng và thị trường châu Á nói chung,” ông Cường chia sẻ.
Cơ hội hợp tác không chỉ dành cho doanh nghiệp Thụy Sĩ tại Việt Nam. Bà Anja Fiedler cho biết doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể cân nhắc thành lập cơ sở hoạt động hoặc trụ sở khu vực tại Thụy Sĩ để tiếp cận thị trường châu Âu, tận dụng môi trường chính trị ổn định, nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái công nghệ phát triển, đặc biệt trong AI và công nghệ vũ trụ.
Nâng năng lực doanh nghiệp trong nước để tận dụng dòng vốn đầu tư
Một trong những vấn đề chính cũng được thảo luận tại hội thảo là sự chênh lệch về khả năng hưởng lợi từ thương mại và đầu tư trong FTA giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp trong nước.
Bà Mariam Sherman – Giám đốc Phân khu Ngân hàng Thế giới phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, cho biết Việt Nam có mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và đang được thực thi, tuy nhiên, lợi ích từ hội nhập chưa được phân bổ đồng đều giữa các nhóm doanh nghiệp.
Bà Mariam Sherman cho rằng doanh nghiệp trong nước cần được hỗ trợ tiếp cận công nghệ, cải thiện kỹ năng lao động và tham gia sâu hơn vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Về phía VCCI, ông Nguyễn Quang Vinh cho biết Liên đoàn sẽ phối hợp với các cơ quan quản lý, hiệp hội doanh nghiệp và đối tác Thụy Sĩ để phổ biến nội dung hiệp định, đồng thời xây dựng các chương trình đào tạo và tư vấn quản trị dành cho doanh nghiệp trong nước.
Ông cho rằng phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó việc nâng cao năng lực quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế là điều kiện quan trọng để tận dụng cơ hội xuất khẩu.
| ||
| Chúng tôi đang suy nghĩ về việc thiết kế một chương trình đào tạo. Thụy Sĩ có nhiều trường đại học danh tiếng, vì vậy chúng tôi đang làm việc với các trường đại học này và các bộ, ngành để xây dựng những khóa đào tạo phù hợp hoặc chương trình huấn luyện dành cho CEO. | ||
| Ông Nguyễn Quang Vinh – Phó Chủ tịch VCCI. |
Khép lại phiên thảo luận, các diễn giả nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế cần đi cùng với mục tiêu phát triển bền vững, từ chuyển đổi công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đến cải thiện năng lực của doanh nghiệp và người lao động.
Theo bà Anja Fiedler, công nghệ và kinh nghiệm của Thụy Sĩ trong quản lý chất thải, sản xuất chính xác và các giải pháp môi trường có thể đóng góp thiết thực cho quá trình phát triển bền vững tại Việt Nam.
Bà đồng thời nhấn mạnh doanh nghiệp cần chủ động duy trì quan hệ với đối tác và nhà phân phối tại thị trường sở tại, bởi hợp tác hiệu quả không chỉ dừng ở việc thiết lập kết nối ban đầu.
Trong khi đó, bà Mariam Sherman khẳng định đầu tư vào con người và doanh nghiệp nội địa sẽ quyết định mức độ bền vững của tăng trưởng.
![]() |
| Ông Nguyễn Cao Cường – Phó Chủ tịch CMC phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Mộc An/Mekong ASEAN. |