Theo báo cáo kinh tế - xã hội được Cục Thống kê công bố sáng 3/11, tháng 10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 122,03 tỷ USD.
Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 64,67 tỷ USD, tăng 51,4% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 57,36 tỷ USD, tăng 43,1% YoY; xuất siêu 7,31 tỷ USD.
Tháng 10 là tháng thứ 2 liên tiếp trong năm 2026 có kết quả xuất siêu, cùng với tháng 9 đạt 1,3 tỷ USD.
Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 1.010,5 tỷ USD. Bao gồm, xuất khẩu hàng hóa ở mức 499,24 tỷ USD, tăng 27,5% YoY; nhập khẩu đạt 511,3 tỷ USD, tăng 37,4% YoY; nhập siêu 12,07 tỷ USD.
Như vậy, chỉ sau 10 tháng năm 2026, Việt Nam đã đạt mốc kỷ lục 1.000 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa.
8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD
Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa khu vực kinh tế trong nước đạt 93,93 tỷ USD, tăng 8,2% YoY, chiếm 18,8% tỷ trọng; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 405,31 tỷ USD, tăng 33% YoY, chiếm 81,2%.
Về cơ cấu, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 452,74 tỷ USD, chiếm 90,7% tỷ trọng; hàng nông sản, lâm sản đạt 33,48 tỷ USD, chiếm 6,7%; hàng thủy sản đạt 10,36 tỷ USD, chiếm 2,1%; hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,66 tỷ USD, chiếm 0,5%.
Trong kỳ, Việt Nam có 37 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,9% tỷ trọng (riêng 8 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 73,4%).
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, đạt 149,4 tỷ USD, tăng tới 71% so với cùng kỳ năm trước.
Hai mặt hàng đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 63,2 tỷ USD, tăng 30,4% YoY; điện thoại và linh kiện đạt 57,6 tỷ USD, tăng 18,4% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng nhẹ 2,2% so với cùng kỳ năm trước, đạt 33,7 tỷ USD; giày dép tăng 1,8% YoY, ở mức 20,2 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng cũng tăng 17,1% YoY, lên mức 16,9 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 15 tỷ USD, tăng 6,8% YoY; thủy sản ở mức 10,3 tỷ USD, tăng 10,9% YoY.
Ở nhóm nông sản, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm này đạt 25,8 tỷ USD. Trong đó, trị giá xuất khẩu rau quả đạt 8,2 tỷ USD, tăng 17,3% YoY; hạt điều tăng nhẹ 1,1% YoY, lên 4,3 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu gạo lại giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 3,3 tỷ USD; cà phê giảm 5,2% YoY, đạt 7,08 tỷ USD; sắn và sản phẩm của sắn giảm 2,9% YoY, đạt 1,01 tỷ USD...
Một số mặt hàng xuất khẩu khác tăng cao như đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 18% YoY, lên 8,8 tỷ USD; sắt thép tăng 23,7% YoY, đạt 6,9 tỷ USD; kim loại thường khác và sản phẩm tăng 26,8% YoY, đạt 4,8 tỷ USD; dây điện và dây cáp điện tăng 32,3% YoY, lên mức 4,7 tỷ USD.
Nhập khẩu tư liệu sản xuất đạt hơn 480 tỷ USD
10 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa khu vực kinh tế trong nước đạt 131,76 tỷ USD, tăng 23% YoY; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 379,55 tỷ USD, tăng 43,2% YoY.
Về cơ cấu, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 481,03 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 58,5%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,6%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 30,28 tỷ USD, chiếm 5,9%.
47 mặt hàng nhập khẩu trong kỳ có trị giá từ 1 tỷ USD trở lên, chiếm 95% tỷ trọng (riêng 8 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 67,3%).
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất, đạt 215,2 tỷ USD, tăng 74,4% so với cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 60 tỷ USD, tăng 21,1% YoY; vải đạt 12,8 tỷ USD, tăng 2,8% YoY.
Kim loại thường khác nhập khẩu ở mức 12,5 tỷ USD, tăng 36,2% so với 10 tháng đầu năm 2025; chất dẻo đạt 11,5 tỷ USD, tăng 11,1% YoY; ô tô đạt 11,1 tỷ USD, tăng 31,2% YoY.
Việt Nam chi 10,2 tỷ USD để nhập khẩu xăng dầu, tăng tới 79,1% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm chất dẻo cũng tăng 15,5% YoY, đạt 10,2 tỷ USD.
Trong kỳ, một số mặt hàng nhập khẩu cũng tăng mạnh như hóa chất tăng 29,2% YoY, lên mức 8,5 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 25,2% YoY, đạt 8,3 tỷ USD; sản phẩm hóa chất tăng 15,8% YoY, ở mức 7,6 tỷ USD.
Dầu thô nhập khẩu tăng 23,7% so với 10 tháng đầu năm 2025, lên 8,1 tỷ USD; than đá tăng 35,8% YoY, đạt 7,7 tỷ USD; quặng và khoáng sản khác tăng 57% YoY, đạt 4,06 tỷ USD; khí đốt hóa lỏng tăng 52,9% YoY, đạt 2,6 tỷ USD...
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam chi 17 tỷ USD để nhập khẩu nhóm này. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu hạt điều đạt 4,1 tỷ USD, tăng 5% YoY; ngô đạt 2,9 tỷ USD, tăng 24,2% YoY; rau quả đạt 2,8 tỷ USD, tăng 30,8% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu thủy sản giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước, còn 2,6 tỷ USD; đậu tương tăng mạnh 52,6% YoY, đạt 1,5 tỷ USD; lúa mỳ tăng 30,9% YoY, ở mức 1,6 tỷ USD.