Với kết quả này, nếu 3 tháng còn lại duy trì kết quả của cùng kỳ năm 2025 (tháng 10 đạt 82,7 tỷ USD, tháng 11 đạt 77,4 tỷ USD, tháng 12 đạt 88,7 tỷ USD), kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm 2026 của Việt Nam dự kiến đạt 1.136 tỷ USD.
Theo báo cáo kinh tế - xã hội công bố sáng ngày 3/10 của Cục Thống kê, 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ở mức 434,3 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 453,7 tỷ USD, tăng 36,7% YoY; nhập siêu đạt 19,4 tỷ USD.
Xuất khẩu tăng trưởng mạnh ở các nhóm hàng lớn nhất
Trong kỳ, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%, chiếm 19,3% tổng giá trị; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4%, chiếm 80,7%.
Về cơ cấu, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 392,79 tỷ USD, chiếm 90,4%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 30,0 tỷ USD, chiếm 6,9%; nhóm hàng thủy sản đạt 9,10 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,41 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Trong 9 tháng năm 2026 có 35 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 94,3% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 70,7%).
Các mặt hàng đứng đầu (điện tử, may mặc và đồ gỗ) ghi nhận sự tăng trưởng mạnh trong kỳ. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, điện tử và linh kiện đạt 123,6 tỷ USD, tăng 59,6% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 55 tỷ USD, tăng 27,9% YoY; điện thoại và linh kiện đạt 51,7 tỷ USD, tăng 18,8% YoY.
Hàng dệt may xuất khẩu trong kỳ ở mức 30,3 tỷ USD, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; giày dép đạt 18,04 tỷ USD, tăng 1,4% YoY; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 15 tỷ USD, tăng 17,1% YoY; gỗ và sản phẩm gỗ ở mức 13,3 tỷ USD, tăng 6,3% YoY.
Trong nhóm nông lâm thủy sản, Việt Nam xuất khẩu thủy sản đạt 9,1 tỷ USD, tăng 11,5% YoY; rau quả ở mức 7,2 tỷ USD, tăng 18,8% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu cà phê lại giảm 6,9% YoY, còn 6,5 tỷ USD; gạo cũng giảm 12,3% YoY, đạt 3,05 tỷ USD; sắn và sản phẩm sắn giảm 3,3% YoY, đạt 917 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu hạt điều tăng nhẹ 1,9% YoY, lên mức 3,8 tỷ USD; hạt tiêu tăng 11,4% YoY, ở mức 1,4 tỷ USD; chè tăng nhẹ 0,2% YoY, đạt 168 triệu USD.
Trong kỳ, một số mặt hàng xuất khẩu ghi nhận tăng trưởng cao như chất dẻo nguyên liệu tăng 48,5% YoY, đạt 2,5 tỷ USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 58,1% YoY, đạt 1,5 tỷ USD; kim loại thường khác và sản phẩm tăng 25,3% YoY, đạt 4,3 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hóa chất tăng tới 57,4% YoY, đạt 3,2 tỷ USD; xăng dầu cũng tăng 52,3% YoY, đạt 1,07 tỷ USD; dây điện và cáp điện tăng 29,6% YoY, đạt 4,1 tỷ USD.
Nhập khẩu tăng 36%
Kim ngạch nhập khẩu khu vực kinh tế trong nước 9 tháng qua đạt 118,17 tỷ USD, tăng 23,5% YoY; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 335,55 tỷ USD, tăng 42% YoY.
Về cơ cấu, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 58,3%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 26,80 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Trong 9 tháng năm 2026 có 45 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 94,5% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 6 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 63,1%).
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất với trị giá 188,9 tỷ USD, tăng tới 71,7% so với cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng nhập khẩu đứng sau là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 53,9 tỷ USD, tăng 21,9% YoY; vải đạt 11,5 tỷ USD, tăng 3,3% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu kim loại thường khác đạt 11,2 tỷ USD, tăng 37,3% YoY; chất dẻo nguyên liệu đạt 10,2 tỷ USD, tăng 9,2% YoY; ô tô đạt 10,1 tỷ USD, tăng 34,5% YoY (riêng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc đạt 4,4 tỷ USD, tăng 30,7% YoY).
Một số mặt hàng nhập khẩu trong kỳ tăng mạnh như xăng dầu tăng 79,3% YoY, đạt 9,3 tỷ USD; than đá tăng 35,2% YoY, đạt 6,9 tỷ USD; dầu thô tăng 14,4% YoY, đạt 6,8 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu hóa chất cũng tăng 28,5% so với cùng kỳ năm trước, lên 7,5 tỷ USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 25,6% YoY, đạt 7,4 tỷ USD; sản phẩm chất dẻo tăng 16,3% YoY, lên mức 9,1 tỷ USD.
Sản phẩm khác từ dầu mỏ nhập khẩu cũng tăng tới 51,1% so với 9 tháng đầu năm 2026, lên 2,1 tỷ USD; khí đốt hóa lỏng tăng 43,7% YoY, đạt 2,1 tỷ USD.