Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong tháng 10/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam đạt 11,57 tỷ USD. Trong đó, trị giá xuất khẩu đạt 6,93 tỷ USD, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước (YoY); nhập khẩu đạt 4,64 tỷ USD, tăng 6,9%; xuất siêu 2,3 tỷ USD, tăng 12,9% YoY.
Lũy kế 10 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nhóm này đạt 107,14 tỷ USD, tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm, trị giá xuất khẩu đạt 63,02 tỷ USD, tăng 8% YoY; nhập khẩu đạt 44,12 tỷ USD, tăng 8,8% YoY.
Trong kỳ, nhóm này xuất siêu 18,91 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm lâm sản xuất siêu 13,02 tỷ USD, tăng 5,3% YoY; thủy sản xuất siêu 7,79 tỷ USD, tăng 17,9% YoY; nông sản xuất siêu 4,56 tỷ USD, giảm 30,3% YoY.
Ngược lại, các nhóm nhập siêu bao gồm nhóm đầu vào sản xuất 2,66 tỷ USD, giảm 42% YoY; sản phẩm chăn nuôi với 3,79 tỷ USD, tăng 20,8% YoY; muối với 22,7 triệu USD, tăng 15,4% YoY.
9 mặt hàng xuất khẩu có trị giá tỷ USD
10 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 32,65 tỷ USD, tăng 3,9% YoY; sản phẩm chăn nuôi đạt 642,7 triệu USD, tăng 25,1% YoY; thủy sản đạt 10,44 tỷ USD, tăng 11,7% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu nhóm lâm sản đạt 16,13 tỷ USD, tăng 7,3% YoY; đầu vào sản xuất đạt 3,15 tỷ USD, tăng 56,4% YoY; muối đạt 12,5 triệu USD, tăng 28,3% YoY.
Trung Quốc là thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam, với thị phần 25,1%. Mỹ là thị trường đứng thứ hai với thị phần 19,9%, tiếp đến là Nhật Bản với 7,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung Quốc tăng 19%, Mỹ tăng 1% và Nhật Bản tăng 4,8%.
Về các mặt hàng cụ thể, gỗ và sản phẩm gỗ là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong nhóm, đạt 15,02 tỷ USD, tăng 6,9% YoY.
Mặt hàng xuất khẩu lớn thứ hai là thủy sản với trị giá 10,44 tỷ USD, tăng 11,7% YoY. Riêng xuất khẩu cá tra mang về 1,85 tỷ USD, tăng 11,5% YoY; tôm đạt 4,25 tỷ USD, tăng 9,5% YoY.
Các mặt hàng xuất khẩu đứng sau lần lượt là rau quả, đạt 8,32 tỷ USD, tăng mạnh 17,8% so với cùng kỳ năm trước; cà phê đạt 7,09 tỷ USD, giảm 5% YoY; hạt điều ở mức 4,38 tỷ USD, tăng 2,2% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 2,54 tỷ USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước; gạo đạt 3,31 tỷ USD, giảm 9,7% YoY; hạt tiêu tăng 13,1% YoY, ở mức 1,58 tỷ USD; sắn và sản phẩm từ sắn giảm 3,6% YoY, còn 1 tỷ USD; chè tăng 4,3% YoY, ở mức 197,4 triệu USD.
Trị giá xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 10 tháng đầu năm 2026 đạt 642,7 triệu USD, tăng 25,1% YoY. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 177,1 triệu USD, tăng 59% YoY; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 195,4 triệu USD, tăng 17,2% YoY.
Về giá xuất khẩu, trong khi cà phê và gạo giảm, các mặt hàng như cao su, sắn và chè lại tăng cao.
Cụ thể, giá xuất khẩu bình quân cà phê ở mức 4.528 USD/tấn, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm trước; gạo giảm 5,4% YoY, đạt 484 USD/tấn; hạt tiêu giảm 3,8% YoY, đạt 6.524,9 USD/tấn.
Ngược lại, sắn và sản phẩm từ sắn tăng 26,5% YoY, lên mức 391,9 USD/tấn; cao su tăng 17,2% YoY, đạt 2.060,5 USD/tấn; chè tăng 9,3% YoY, đạt 1.874,3 USD/tấn; hạt điều tăng 4,3% YoY, ở mức 7.103,9 USD/tấn.
Nhập khẩu đậu tương, lúa mì, phân bón tăng mạnh
Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026, trị giá nhập khẩu các mặt hàng nông sản đạt 28,09 tỷ USD, tăng 12,8% YoY; sản phẩm chăn nuôi đạt 4,43 tỷ USD, tăng 21,4%; thủy sản đạt 2,65 tỷ USD, giảm 3,1% YoY.
Việt Nam chi 3,1 tỷ USD để nhập khẩu lâm sản, tăng 16,7% YoY; đầu vào sản xuất đạt 5,81 tỷ USD, giảm 11,9% YoY; muối đạt 35,2 triệu USD, tăng 19,6% YoY.
Trung Quốc, Mỹ và Campuchia là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 12,6%, 11,6% và 8,8%. So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá nhập khẩu nông lâm thủy sản từ các thị trường trên tăng lần lượt 12,6%, 22,9% và 5,2%.
Về mặt hàng cụ thể, sản phẩm chăn nuôi có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất, đạt 4,43 tỷ USD, tăng 21,4% YoY. Trong đó, trị giá nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 1,29 tỷ USD, tăng 10,2% YoY; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 1,8 tỷ USD, tăng 12,6% YoY.
Hạt điều là mặt hàng nhập khẩu lớn thứ hai, với trị giá 4,22 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước.
Các mặt hàng nhập khẩu đứng sau lần lượt là thức ăn gia súc và nguyên liệu với kim ngạch 3,91 tỷ USD, tăng 1% YoY; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,07 tỷ USD, tăng 16,7% YoY; ngô với trị giá 3,01 tỷ USD, tăng 26,5% YoY.
Một số mặt hàng nhập khẩu khác có kết quả tăng trưởng mạnh như đậu tương tăng 43,6% YoY, đạt 1,54 tỷ USD; lúa mì tăng 33,7% YoY, ở mức 1,69 tỷ USD; rau quả tăng 31% YoY, lên 2,83 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu cao su cũng tăng 14,8% YoY, lên 2,83 tỷ USD; phân bón tăng 39,3% YoY, đạt 1,08 tỷ USD. Thuốc bảo vệ thực vật và nguyên liệu nhập khẩu tăng nhẹ 0,6% YoY, đạt 825,5 triệu USD. Kim ngạch nhập thủy sản lại giảm 3,1% YoY, còn 2,65 tỷ USD.
Về giá nhập khẩu bình quân, giá nhập cao su tăng mạnh nhất với 14,3% YoY, đạt 1.868,5 USD/tấn; hạt điều tăng 8,9% YoY, ở mức 1.659 USD/tấn; đậu tương tăng 6,9% YoY, đạt 496,7 USD/tấn.
Kim ngạch nhập khẩu ngô tăng nhẹ 2,3% so với cùng kỳ năm trước, đạt 255,6 USD/tấn; lúa mì tăng 0,1% YoY, ở mức 267,5 USD/tấn.
Ngược lại, phân bón nhập khẩu giảm 7% so với cùng kỳ năm 2025, ở mức giá 330,3 USD/tấn.