Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Israel (VIFTA) được ký kết ngày 25/7/2023 và chính thức có hiệu lực từ ngày 17/11/2024.
Tại Hội thảo “Cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Israel trong bối cảnh mới” diễn ra chiều 5/11, Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại Israel Lê Thái Hòa đánh giá, kể từ khi Hiệp định VIFTA đi vào thực thi, kim ngạch thương mại hàng hóa hai bên liên tục ghi nhận mức tăng trưởng bứt phá.
Nếu như xuất nhập khẩu hai chiều năm 2024 mới đạt khoảng 3 tỷ USD, đến 10 tháng đầu năm 2026 đã lên mức 3,5 tỷ USD. Dự kiến cả năm 2026, trao đổi thương mại hai chiều sẽ tiến tới mốc 4,4 tỷ USD, tăng trên 21% so với năm trước.
Riêng trị giá hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang quốc gia Trung Đông này đã cán mốc 1 tỷ USD sau 10 tháng, tăng 42,4% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2026, xuất khẩu có thể đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng 50,3% so với năm 2025.
“Việc VIFTA được ký kết và đi vào thực thi đã tạo xung lực mạnh mẽ cho quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai quốc gia, đặc biệt mở rộng thị trường và giúp kim ngạch trao đổi hàng hóa tăng trưởng bứt phá,” ông Lê Thái Hòa khẳng định.
Theo ông Hòa, VIFTA không chỉ thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa, mở rộng đầu tư mà còn mở ra cơ hội để phía Israel khai thác thị trường Đông Nam Á được coi là “công xưởng thế giới”, từ đó bù đắp và đáp ứng nguồn cung nội địa đang chịu ảnh hưởng bởi tình trạng đứt gãy chuỗi cung ứng.
![]() |
| Hội thảo do Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) tổ chức, thu hút sự tham dự của nhiều doanh nghiệp. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Khai thác ra sao VIFTA giai đoạn tới
Sau gần hai năm đi vào thực thi, VIFTA cho đến hiện tại vẫn cho thấy không gian khai thác rộng mở, nhất là khi Israel có thể trở thành một trong những cửa ngõ để hàng hóa Việt tiếp cận khu vực Trung Đông – Bắc Phi.
Chỉ ra những cơ hội mà VIFTA mang lại, bà Phạm Hoài Linh, đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho rằng có 4 điểm chính doanh nghiệp cần quan tâm.
Trước hết là cơ hội bứt phá cho các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam. Theo bà Linh, với nhóm hàng nông – thủy sản, Israel là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là mặt hàng cá ngừ (chiếm tỷ trọng lớn nhất).
Ngoài ra doanh nghiệp có thể đẩy mạnh các nhóm hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, đồ gỗ nội thất; nhóm hàng tiềm năng như điện, điện tử...
Thứ hai là sở hữu tấm giấy thông hành để hàng xuất khẩu Việt Nam tiến vào thị trường Trung Đông và Bắc Phi.
Châu Phi nói chung và Bắc Phi nói riêng là thị trường vô cùng rộng lớn với 55 quốc gia, còn rất nhiều dư địa để phát triển. Trong khi đó, khu vực Trung Đông nổi tiếng với tiềm lực tài chính vững mạnh và khả năng thanh toán tốt.
Do bất lợi về khí hậu, thời tiết và điều kiện tự nhiên nên các nước Trung Đông không có thế mạnh về sản xuất hàng tiêu dùng, nông sản và lương thực thực phẩm, dẫn đến nhu cầu nhập khẩu rất lớn. “Điều này tạo ra sự bổ sung hoàn hảo cho nền kinh tế Việt Nam,” bà Linh chia sẻ.
Nói về cơ hội thứ ba, đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên nhấn mạnh về việc tiếp cận công nghệ cao và thu hút FDI. Israel là quốc gia giàu có, sở hữu tiềm lực tài chính và nền tảng công nghệ tiên tiến, hiện đại. VIFTA sẽ là cơ hội lớn để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ cao và thu hút các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
![]() |
| Bà Phạm Hoài Linh, đại diện Vụ Phát triển thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên chia sẻ tại sự kiện. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Thứ tư là đa dạng hóa chuỗi cung ứng và giảm thiểu rủi ro. Doanh nghiệp cần tận dụng để tìm kiếm và mở cửa các thị trường mới, nhiều dư địa thay vì phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường trọng điểm.
Ở chiều ngược lại, từ góc độ cơ quan tại địa bàn, ông Lê Thái Hòa cho biết thêm, để tận dụng ưu đãi từ VIFTA, nhiều doanh nghiệp Israel đã chủ động sang Việt Nam tham dự các sự kiện, hội chợ triển lãm (nhất là chuỗi sự kiện VietNam International Sourcing) nhằm gặp gỡ trực tiếp các đối tác Việt Nam, đa dạng hóa nguồn cung hàng hóa.
Mở rộng thị trường chưa bao giờ là dễ
Doanh nghiệp có FTA, có hàng hóa chất lượng nhưng điều này không đồng nghĩa với việc vào thị trường Trung Đông này dễ dàng.
Bà Phạm Hoài Linh khẳng định, không chỉ yêu cầu sản phẩm chất lượng cao, thị trường Israel còn có những tiêu chuẩn khắt khe liên quan đến vấn đề tôn giáo.
Hiện tại, khoảng 70% dân số Israel là người Do Thái, do đó hàng hóa thực phẩm xuất khẩu sang đây phải tuân thủ nghiêm ngặt về văn hóa ẩm thực Kosher – văn hóa ẩm thực của người Do Thái.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với thách thức từ chi phí logistics và rủi ro địa chính trị. Khoảng cách địa lý xa xôi kết hợp với căng thẳng địa chính trị khiến giá dầu, chi phí vận tải biển, chi phí bảo hiểm và thời gian vận chuyển tăng cao, trực tiếp làm gia tăng giá thành sản phẩm.
Mặt khác, không chỉ có các đối thủ quốc tế đến Israel, doanh nghiệp sẽ còn gặp phải cạnh tranh từ chính thị trường nội địa. Sức ép từ các sản phẩm công nghệ cao của Israel buộc hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phải nâng cao hàm lượng chất xám.
Dù vậy, cùng với việc doanh nghiệp Việt đã chinh phục nhiều thị trường khó tính trên thế giới, bà Linh bày tỏ tin tưởng doanh nghiệp có thể tận dụng việc nhập khẩu nguyên liệu chất lượng cao từ Israel để sản xuất và xuất khẩu ngược, hưởng lợi thuế quan ở cả hai chiều.
“Quy tắc xuất xứ của VIFTA khá chặt chẽ, song với kinh nghiệm chinh phục các thị trường khó tính như EU và châu Mỹ, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể đáp ứng tốt,” bà Linh chia sẻ.