![]() |
| Ảnh minh hoạ: Đức Anh/Mekong ASEAN. |
Trả lời phỏng vấn Mekong ASEAN, Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương nhìn nhận những áp lực lớn đối với điều hành kinh tế vĩ mô, đồng thời định hình các nhóm giải pháp trọng tâm để đưa con tàu kinh tế bứt tốc mạnh mẽ trong chặng đường quyết định của năm bản lề 2026.
Mekong ASEAN: GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng tới 8,18%. Theo bà, đâu là những động lực chính tạo nên kết quả tăng trưởng này?
Bà Nguyễn Thị Hương: Nhìn một cách tổng thể, bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 đã phác họa những chuyển động tích cực, cho thấy sức chống chịu và năng lực thích ứng của nền kinh tế tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Mức tăng trưởng GDP 8,18% trong nửa đầu năm là kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của cả năm, với xu hướng quý sau cao hơn quý trước rõ rệt - khi quý I tăng 7,94% và quý II bứt phá lên 8,39%. Tốc độ này không chỉ duy trì được đà phục hồi mà còn vượt trội so với mức tăng 7,63% của cùng kỳ năm 2025.
Các bệ đỡ cốt lõi của nền kinh tế đều ghi nhận mức tăng trưởng đồng đều. Về phía cung, khu vực sản xuất công nghiệp đóng vai trò là động lực kéo chính với mức tăng 10,8% so với cùng kỳ. Động lực này đến từ việc nhiều dự án công nghiệp quy mô lớn chính thức đi vào vận hành thương mại, cộng hưởng với tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh, tạo cú hích lớn cho hạ tầng.
Về phía cầu, khu vực thương mại và dịch vụ tiếp tục là bệ đỡ vững chắc nhờ sức mua nội địa cải thiện sâu sắc và sự bùng nổ của ngành du lịch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng mạnh 12,9%. Việt Nam đã đón 12,25 triệu lượt khách quốc tế, con số kỷ lục của 6 tháng đầu năm trong nhiều năm trở lại đây.
Một điểm nhấn quan trọng khác phản ánh niềm tin chiến lược của thị trường chính là dòng vốn đầu tư. Khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang cải thiện rất rõ nét khi vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng (tăng 12,9%). Đáng chú ý, dòng vốn ngoại (FDI) đổ vào Việt Nam chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ với tổng vốn đăng ký đạt 34,65 tỷ USD (tăng tới 61% so với cùng kỳ) và vốn thực hiện đạt 13,0 tỷ USD (tăng 11,2%). Sự dịch chuyển dòng vốn này, đi cùng với tinh thần khởi nghiệp sôi động, thể hiện qua việc có 169,8 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường (số rút lui là 151,1 nghìn), quy mô vốn đăng ký mới tăng tới 64,8%.
Các chỉ tiêu về ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực. CPI tháng 6 giảm 0,39% so với tháng trước, là mức giảm thấp nhất của tháng 6 trong nhiều năm gần đây. Cùng với đó, thị trường lao động tiếp tục cải thiện khi số lao động có việc làm tăng thêm 672,5 nghìn người; thu nhập bình quân đạt gần 9 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng so với cùng kỳ.
Các tổ chức tài chính quốc tế nhận định Việt Nam tiếp tục là một trong những điểm sáng tăng trưởng năng động và kiên cường nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương nhờ nền tảng vĩ mô ổn định cùng sức hút FDI vượt trội.
![]() |
Mekong ASEAN: Bức tranh kinh tế hai quý đầu năm đã phác họa nhiều chuyển động tích cực. Tuy nhiên, chặng đường 6 tháng cuối năm dự báo còn nhiều biến số. Từ góc độ cơ quan thống kê, bà đánh giá thế nào về triển vọng đạt các kịch bản tăng trưởng, đâu là những rủi ro trọng yếu cần chủ động nhận diện?
Bà Nguyễn Thị Hương: Mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả năm đặt ra áp lực rất lớn cho 6 tháng cuối năm. Trên cơ sở kết quả tăng trưởng GDP quý II và 6 tháng, cần đạt mức tăng trưởng khoảng 11,7% trong nửa cuối năm để hoàn thành mục tiêu.
Cục Thống kê nhận định, 6 tháng cuối năm, đà phục hồi của nền kinh tế tiếp tục được củng cố nhờ ổn định kinh tế vĩ mô, sản xuất công nghiệp và khu vực dịch vụ duy trì xu hướng tăng, đầu tư công được đẩy mạnh và môi trường đầu tư tiếp tục được cải thiện.
Tuy nhiên, Cơ quan thống kê cũng nhận diện những rủi ro đang cản trở đà tăng trưởng của nền kinh tế hiện nay. Từ phía bên ngoài, bối cảnh kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, đặc biệt là xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại, biến động địa chính trị, chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn và tốc độ phục hồi chưa đồng đều của tổng cầu thế giới.
Trong nước, sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp còn hạn chế, một số động lực tăng trưởng truyền thống có dấu hiệu suy yếu, trong khi các động lực mới chưa đủ mạnh để tạo sự bứt phá. Sức mua nội địa có lúc, có nơi còn yếu khiến dòng tiền lưu thông trong khu vực thương mại - dịch vụ bị chậm lại.
Công tác điều hành vĩ mô của Chính phủ cũng đang đứng trước những bài toán thực tế đòi hỏi sự cân bằng rất khéo léo giữa các mục tiêu. Một mặt, vừa phải duy trì chính sách tiền trợ, tài khóa nới lỏng hợp lý thông qua giảm lãi suất, kích cầu để hỗ trợ doanh nghiệp bứt phá tăng trưởng; mặt khác, lại phải kiểm soát chặt chẽ lạm phát và giữ ổn định tỷ giá trước các cú sốc từ bên ngoài.
Tóm lại, những nút thắt mang tính cấu trúc nội tại kết hợp với các biến số bất lợi từ quốc tế đòi hỏi chúng ta không được chủ quan, mà phải liên tục bám sát tình hình để có những kịch bản ứng phó linh hoạt, kịp thời.
![]() |
| Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương. Ảnh: NSO. |
Mekong ASEAN: Để hiện thực hóa mục tiêu bứt tốc 11,9% trong nửa cuối năm, Cục Thống kê nhận diện đâu là những giải pháp trọng tâm?
Bà Nguyễn Thị Hương: Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong sáu tháng cuối năm, Cục Thống kê nhìn nhận, nhiệm vụ hàng đầu và mang tính quyết định chính bám sát mục tiêu xuyên suốt là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế; củng cố các động lực tăng trưởng hiện có, đồng thời tạo dư địa cho các động lực tăng trưởng mới. Điều hành cần linh hoạt, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm, tránh tình trạng chạy theo mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn mà làm gia tăng các rủi ro vĩ mô trong trung và dài hạn.
Đồng thời, chủ động nắm bắt, phân tích sát sao diễn biến địa chính trị và kinh tế toàn cầu, đặc biệt là căng thẳng tại Trung Đông, biến động giá dầu thô, cước vận tải và tỷ giá, nhằm kịp thời cập nhật, dự báo các kịch bản tăng trưởng, lạm phát.
Nhóm giải pháp thứ hai, theo Cục trưởng Cục Thống kê là tập trung khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng truyền thống. Thị trường nội địa cần được coi trọng hơn thông qua các chương trình kích cầu tiêu dùng và kết nối cung cầu. Việc phát triển mạnh mẽ thương mại điện tử và hệ thống phân phối hiện đại sẽ giúp thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa đồng thời bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu cho người dân trong mọi tình huống.
Sản xuất công nghiệp cần tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nội địa, chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng và đa dạng hóa nguồn cung nguyên vật liệu. Trong bối cảnh logistics vẫn là điểm nghẽn, việc kiểm soát chi phí vận tải và đẩy nhanh tháo gỡ thủ tục hành chính để khơi thông nguồn vốn đầu tư công là vô cùng cấp thiết. Đồng thời, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản trị doanh nghiệp và bảo đảm an ninh năng lượng sẽ tạo ra sức bật mới cho ngành công nghiệp.
Cùng với đó, cần có chiến lược thúc đẩy xuất khẩu bền vững, khuyến khích doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Việc tận dụng tối đa các FTA và nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế khắt khe sẽ giúp hàng hóa Việt Nam đứng vững trên thị trường toàn cầu. Đồng hành với đó là sự phát triển của hệ thống logistics để giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh cho nông, lâm, thủy sản.
Nhóm giải pháp thứ ba, đẩy nhanh việc phát huy các động lực tăng trưởng mới. Việc triển khai hiệu quả các chủ trương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, cải thiện năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong những năm tới. Tuy nhiên, để các động lực này phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ.
Nhóm giải pháp thứ tư, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh phải được thực hiện một cách thực chất và mạnh mẽ hơn. Việc cắt giảm chi phí tuân thủ và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sẽ tạo ra sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong các dự án công nghệ cao, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Sự liên kết chặt chẽ giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ giúp nâng cao sức chống chịu của toàn bộ nền kinh tế.
![]() |
Mekong ASEAN: Bước vào giai đoạn quyết định của năm 2026 – năm bản lề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hôi giai đoạn 2026-2030, theo bà, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần tập trung vào những yếu tố nào để duy trì đà tăng trưởng và góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng của cả nước?
Bà Nguyễn Thị Hương: Mục tiêu tăng trưởng quốc gia hay khát vọng hai con số không phải là những con số lý thuyết, mà là dòng chảy kinh tế thực sự đang diễn ra từng ngày, tại mỗi địa phương, doanh nghiệp.
Với các địa phương, để biến khát vọng thành kết quả thực tế, thông điệp của tôi gói gọn trong ba tư duy hành động cốt lõi sau:
Trước hết là tư duy "định vị động lực": Mỗi địa phương, từ cấp tỉnh, thành phố cho đến từng xã, phường, phải tự rà soát và xác định rõ những mũi nhọn chiến lược của mình. Trên địa bàn đang có những công trình trọng điểm nào? Đâu là những sản phẩm chủ lực mang lại giá trị gia tăng cao? Tất cả các mắt xích này đều phải được đặt trong một tâm thế tăng trưởng vượt bậc, tạo ra năng suất và sản lượng tương ứng để đóng góp vào mục tiêu chung.
Thứ hai là sự "cộng hưởng trách nhiệm": Ngoài các công trình trọng điểm do Trung ương cũng như các tập đoàn, tổng công ty triển khai trên phạm vi cả nước, thì những sản phẩm, dự án do địa phương chịu trách nhiệm cũng phải có mức tăng trưởng tương ứng. Muốn tăng trưởng đột phá, cả Trung ương và địa phương đều phải xây dựng được danh mục nhiệm vụ rõ ràng, áp đặt những chỉ tiêu tăng trưởng tương thích và quyết liệt khơi thông mọi rào cản dòng vốn, thủ tục.
Cuối cùng là tinh thần "đồng tốc và nhất quán": Mọi quyết sách vĩ mô dù hay đến đâu cũng đều phải được hiện thực hóa trên một tọa độ địa lý cụ thể. Do đó, trách nhiệm của các địa phương là đồng lòng, đồng tốc cùng Trung ương và các bộ, ban, ngành tạo thành một khối thống nhất hành động.
Mặt khác, từ góc độ quản lý, các nhiệm vụ giao cho địa phương cũng cần tiếp tục được cập nhật, rà soát trên cơ sở kết quả thực hiện trong 6 tháng đầu năm, nhằm phát huy lợi thế của từng địa phương, phát huy những kết quả đã đạt được, đồng thời khơi thông các nguồn lực và khắc phục những hạn chế, tồn tại.
Ở góc độ cơ quan thống kê, chúng tôi sẽ tiếp tục rà soát, cập nhật để làm rõ hơn đóng góp của từng địa phương, từ đó Chính phủ có cơ sở điều chỉnh, cập nhật các nghị quyết trong thời gian tới, bảo đảm phù hợp hơn với thực tiễn, sát với diễn biến kinh tế và phù hợp với vị trí, vai trò của từng địa phương trong bức tranh tăng trưởng chung.
Với cộng đồng doanh nghiệp, cần chủ động nâng cao năng lực quản trị rủi ro trước tính bất định; tối ưu hóa hiệu suất và chuẩn hóa các tiêu chuẩn xanh (ESG). Chính phủ và các địa phương đang nỗ lực tối đa trong việc cải cách thể chế, khơi thông nguồn lực để tạo không gian phát triển. Các doanh nghiệp, đặc biệt là khối doanh nghiệp nội địa, cần chủ động liên kết, tạo thành các hệ sinh thái sản xuất chặt chẽ để tăng sức cạnh tranh, đồng thời tận dụng triệt để các dư địa từ dòng vốn FDI đang đổ mạnh vào Việt Nam.
Mekong ASEAN: Cảm ơn những chia sẻ của bà!