Tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài quý 2/2026 do Bộ Công Thương tổ chức sáng ngày 7/7, một thông điệp đồng nhất đã được gửi về từ các thị trường trọng điểm: Dư địa tăng trưởng của hàng hóa Việt Nam trong nửa cuối năm không chỉ nằm ở quy mô đơn hàng, mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực nâng cao chất lượng sản phẩm và quản trị chuỗi cung ứng, năng lực quản trị rủi ro, năng lực tuân thủ chính sách và xây dựng khả năng cạnh tranh dài hạn.
Thị trường Mỹ: Dư địa tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào 3 yếu tố
Mỹ hiện vẫn duy trì vị thế là thị trường có nhu cầu khổng lồ đối với các nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ và linh kiện điện tử. Dù vậy, ông Đỗ Ngọc Hưng – Tham tán thương mại Việt Nam tại Mỹ cũng cảnh báo về những biến động trong môi trường thương mại tại đây. Đáng chú ý, Mỹ đang mở rộng rà soát và gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại gắn liền với khái niệm "an ninh kinh tế và chuỗi cung ứng chiến lược".
Ông Hưng thông tin, Mỹ hiện vẫn có nhu cầu lớn đối với các nhóm hàng thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử, máy móc thiết bị, thủy sản, nông sản chế biến, thực phẩm giá trị gia tăng, sản phẩm tiêu dùng và hàng công nghiệp hỗ trợ.
“Xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi các điểm tập trung rủi ro vẫn tạo cơ hội cho Việt Nam trong thu hút đơn hàng, thu hút đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu,” ông Hưng nói.
Tuy nhiên theo ông Hưng, dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới sẽ không chỉ đến từ việc tăng sản lượng xuất khẩu theo chiều rộng, mà phụ thuộc nhiều hơn vào 3 yếu tố: Nâng cấp chất lượng sản phẩm; Nâng cao năng lực tuân thủ; Xây dựng được chuỗi cung ứng minh bạch, có khả năng truy xuất và giải trình.
Với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, Tham tán thương mại tại Mỹ cho biết, thách thức lớn nhất vào thị trường này là tiếp cận thông tin sớm về thay đổi chính sách, cải thiện năng lực chuẩn bị hồ sơ phòng vệ thương mại, tăng cường hiểu biết về yêu cầu lao động, môi trường, xuất xứ, chứng nhận, tiêu chuẩn kỹ thuật và tham gia kênh kết nối trực tiếp với nhà phân phối, hiệp hội và hệ thống bán lẻ tại Mỹ.
![]() |
| Tham tán thương mại Đỗ Ngọc Hưng chia sẻ tại hội nghị. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Nói thêm về các chính sách sẽ ảnh hưởng đến tình hình xuất khẩu vào Mỹ giai đoạn tới, theo ông Đỗ Ngọc Hưng, quý 2/2026, môi trường thương mại Mỹ tiếp tục biến động nhanh, phức tạp và có xu hướng sử dụng đồng thời nhiều công cụ chính sách.
Mỹ đang gia tăng sử dụng các công cụ điều tra và thực thi thương mại như Mục 301 về hành vi thương mại không công bằng, Mục 232 về an ninh kinh tế, các biện pháp phòng vệ thương mại, điều tra chống lẩn tránh thuế.
Các vụ việc này không chỉ tác động đến từng ngành hàng cụ thể mà còn phản ánh cách tiếp cận tổng thể mới của Mỹ đối với thương mại: Tức là gắn thương mại với an ninh kinh tế, chuỗi cung ứng chiến lược, tiêu chuẩn lao động, môi trường và cạnh tranh công bằng
Mỹ tiếp tục mở rộng rà soát chính sách đối với các lĩnh vực như thép, nhôm, đồng, chip, dược phẩm, thiết bị công nghiệp, thủy sản và các sản phẩm có liên quan đến chuỗi cung ứng chiến lược. Đây cũng là thị trường có tần suất điều tra phòng vệ thương mại rất cao. Các vụ việc liên quan đến gạch ốp lát, máy nén khí di động, gỗ dán, thép, thủy sản và một số mặt hàng công nghiệp khác cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cạnh tranh về giá và chất lượng, mà còn phải cạnh tranh về năng lực tuân thủ, minh bạch hồ sơ, khả năng giải trình dữ liệu và quản trị chuỗi cung ứng.
“Thương vụ nhận thấy yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là 'bán được hàng' vào thị trường Mỹ, mà phải chuyển sang cách tiếp cận 'phát triển thị trường có quản trị rủi ro', gắn xúc tiến thương mại với cảnh báo chính sách, hỗ trợ tuân thủ, xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn và giảm thiểu khả năng bị áp dụng các biện pháp bất lợi,” ông Đỗ Ngọc Hưng nhận định.
Thị trường Hà Lan: Nhu cầu tiêu dùng vẫn chịu tác động từ lạm phát
Bà Võ Thị Ngọc Diệp – Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại Hà Lan dự báo, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hà Lan cả năm 2026 có thể tăng khoảng 18 - 22% so với năm 2025.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong nửa cuối năm có thể chậm lại so với những tháng đầu năm do hiệu ứng nền so sánh thấp của năm 2025 dần giảm bớt, đồng thời nhu cầu tiêu dùng tại châu Âu vẫn chịu tác động bởi lạm phát và bất ổn địa chính trị.
![]() |
| Hội nghị giao ban Thương vụ quý 2/2026 do Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại Vũ Bá Phú chủ trì. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Bà Diệp nhận định, các nhóm hàng sẽ tiếp tục đóng vai trò động lực như nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện tiếp tục hưởng lợi từ xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu và nhu cầu về thiết bị công nghệ, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo tại châu Âu.
Nhóm dệt may và giày dép được kỳ vọng duy trì đà tăng nhờ nhu cầu nhập khẩu của các nhà bán lẻ châu Âu phục hồi và lợi thế thuế quan từ EVFTA.
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận nhiều khả năng tiếp tục tăng trưởng mạnh do xu hướng chuyển dịch đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam, tuy nhiên mức tăng sẽ khó duy trì ở mức đột biến như 5 tháng đầu năm do yếu tố nền thấp.
Nhóm gỗ và sản phẩm gỗ được dự báo tiếp tục tăng trưởng hai con số nhờ nhu cầu cải tạo nhà ở và tiêu dùng nội thất tại châu Âu phục hồi dần.
Rau quả sẽ tiếp tục là điểm sáng nhờ nhu cầu đối với các sản phẩm nhiệt đới, sản phẩm hữu cơ và thực phẩm lành mạnh tại Hà Lan tăng lên.
Các mặt hàng nông sản truyền thống như cà phê, hạt điều và thủy sản, xuất khẩu được dự báo duy trì mức tăng trưởng ổn định nhưng khó tạo đột phá lớn do thị trường Hà Lan ngày càng yêu cầu cao về tính bền vững, truy xuất nguồn gốc, giảm phát thải carbon và các tiêu chuẩn môi trường - xã hội.
Dù vậy, xuất khẩu của Việt Nam sang Hà Lan trong những tháng cuối năm vẫn đối mặt với một số thách thức như tăng trưởng kinh tế châu Âu còn khiêm tốn, chi phí logistics và năng lượng vẫn ở mức cao, các quy định mới của EU liên quan đến phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, chống phá rừng (EUDR), cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng khắt khe.
“Nhìn chung, trong bối cảnh Hà Lan tiếp tục giữ vai trò là cửa ngõ logistics và trung tâm phân phối hàng hóa lớn nhất châu Âu, triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này trong 6 tháng cuối năm 2026 được đánh giá tích cực, với động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ nhóm hàng điện tử, công nghệ cao, dệt may, giày dép, đồ chơi thể thao, gỗ và các sản phẩm nông sản chế biến có giá trị gia tăng cao,” bà Diệp nhận định.
![]() |
| Các tham tán thương mại trao đổi online tại hội nghị. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Thị trường UAE: Rất nhiều tiềm năng
Mặc dù ở trong khu vực chịu tác động bởi xung đột Trung Đông thời gian qua, UAE vẫn được đánh giá là thị trường có tiềm năng lớn với doanh nghiệp Việt.
Ông Trương Xuân Trung – Tham tán thương mại Thương vụ Việt Nam tại UAE chia sẻ, UAE hiện chỉ sản xuất được khoảng 10 – 15% nhu cầu lương thực và thực phẩm để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, khoảng 85 – 90% nhu cầu về lương thực và thực phẩm UAE vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu.
Do đó thời gian tới, UAE vẫn phải nhập khẩu các nhóm sản phẩm trên, cùng với các mặt hàng điện, điện tử, dệt may, da giày, vật liệu xây dựng, đồ gỗ…
Ngày 3/2/2026, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện giữa Việt Nam và UAE (CEPA) đã chính thức có hiệu lực, đưa 95% dòng thuế quan về 0. Đây là lực đẩy cho xuất khẩu Việt Nam trong 6 tháng đầu năm và là đà để Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu nửa cuối năm 2026.
Một thuận lợi khác khi Việt Nam có FTA với UAE là việc nước này và các thành viên của Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) dùng chung hệ thống hải quan. Do đó hàng hóa Việt Nam sau khi xuất khẩu sang UAE, tiếp tục tái xuất sang các nước GCC sẽ không bị áp thuế lần 2.
UAE hiện cũng tập trung mở rộng chuỗi cung ứng, trong đó có khu vực ASEAN; đồng thời đây còn là thị trường có nhu cầu lớn với các sản phẩm Halal.
Mặt khác, UAE không chỉ là thị trường tiêu thụ sản phẩm mà còn là trung tâm tái xuất ra thế giới. Trong năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu mặt hàng phi dầu khí của UAE đạt 1.030 tỷ USD, riêng hàng hóa tái xuất đạt 267 tỷ USD.
Tuy nhiên, ông Trung cũng lưu ý, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này thời gian tới cũng sẽ đối diện không ít thách thức. Trước hết là chi phí vận tải tăng cao. Tình hình xung đột tại khu vực dù đã giảm nhiệt nhưng chi phí logistics vẫn neo cao so với trước xung đột xảy ra, đặt ra khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.
Đặc biệt UAE cũng đang đặt ra những yêu cầu kỹ thuật ngày càng khắt khe. Mới đây, nước này đã đưa ra quy định mới về bao bì, trong đó các doanh nghiệp phải sử dụng bao bì sinh học hoặc tái chế. Cùng với đó, dù CEPA giữa hai nước đã có hiệu lực nhưng nhiều doanh nghiệp Việt vẫn chưa nắm được quy tắc xuất xứ, thủ tục và những cam kết kỹ thuật liên quan đến xuất khẩu.
Trong bối cảnh đó, Thương vụ Việt Nam tại UAE kiến nghị, Vụ Chính sách thương mại đa biên và các đơn vị liên quan trong Bộ Công Thương cần tích cực phổ biến chính sách ưu đãi thuế trong hiệp định CEPA giữa Việt Nam và UAE tới cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, để tận dụng chính sách ưu đãi thuế quan khi xuất khẩu hàng hóa vào nước này.
Cục Xúc tiến thương mại cũng cần tăng cường tổ chức các đoàn xúc tiến thương mại sang thị trường UAE trong thời gian tới để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tìm hiểu thị trường, kết nối với các đối tác, ông Trung kiến nghị.