Theo số liệu từ Cục Hải quan, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam – Australia đạt 8,1 tỷ USD, là mức cao nhất 6 tháng giai đoạn 2021 - 2026. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,8 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước (YoY) và nhập khẩu đạt 4,3 tỷ USD, tăng 19% YoY.
Về xuất khẩu, 9 mặt hàng xuất khẩu sang Australia có trị giá từ 100 triệu trở lên. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 593 triệu USD, tăng tới 84% so với nửa đầu năm 2025. Điện thoại và linh kiện là mặt hàng lớn thứ hai với trị giá 456 triệu USD, tăng 18,3% YoY.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 438,8 triệu USD, tăng 87,8% YoY; dệt may đạt 308 triệu USD, tăng nhẹ 4,3% YoY.
Kim ngạch xuất khẩu dầu thô sang Australia lại giảm 1,3% YoY, còn 295 triệu USD; giày dép cũng giảm 5,4% YoY, ở mức 199,9 triệu USD; thủy sản tăng 15,5% YoY, đạt 176,5 triệu USD.
Sản phẩm từ sắt thép xuất khẩu thu về 128 triệu USD, tăng 3,2% so với nửa đầu năm 2025; sắt thép giảm 33% YoY, đạt 104,8 triệu USD.
Tổng kim ngạch 9 mặt hàng trên đạt 2,7 tỷ USD, chiếm 71% tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sang Australia trong nửa đầu năm 2026.
Một số mặt hàng khác xuất khẩu có mức tăng trưởng cao như chất dẻo nguyên liệu +112% YoY, đạt 19,3 triệu USD; đồ chơi, dụng cụ thể thao và phụ tùng +80,4% YoY, đạt 73 triệu USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện +69% YoY, lên 22,7 triệu USD; túi xách, ví vali, mũ ô dù +30% YoY, ở mức 45 triệu USD.
Trong nhóm nông lâm thủy sản, ngoài thủy sản, Việt Nam còn xuất khẩu rau quả sang thị trường này với trị giá 71,3 triệu USD, tăng 12,8% YoY; cà phê tăng 60,8% YoY, đạt 65 triệu USD; hạt điều tăng 13,9% YoY, ở mức 48,1 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu hạt tiêu tăng tới 107% so với nửa đầu năm 2025, lên mức 11,2 triệu USD; gạo cũng tăng 8,2% YoY, đạt 15,7 triệu USD. Gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu tăng 8% YoY, lên mức 75,2 triệu USD.
Về nhập khẩu, mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Australia là than với trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 15,8% YoY và là mặt hàng duy nhất có kim ngạch tỷ USD trong nửa đầu năm 2026.
Các mặt hàng nhập khẩu đứng sau lần lượt là quặng và khoáng sản khác với kim ngạch 700 triệu USD, tăng 8,9% YoY; kim loại thường khác đạt 695 triệu USD, tăng 32,9% YoY; lúa mì tăng nhẹ 4,5% YoY, ở mức 212 triệu USD.
Đáng chú ý, khí đốt hóa lỏng nhập khẩu từ Australia tăng tới 320% YoY, từ 39,6 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên 166,7 triệu USD tại kỳ này.
Việt Nam còn chi 116,9 triệu USD để nhập khẩu bông từ thị trường này, tăng 20,8% YoY; rau quả tăng 55,5% YoY, ở mức 102,8 triệu USD.
Tổng kim ngạch nhập khẩu 7 mặt hàng trên đạt 3,7 tỷ USD, chiếm 84% tỷ trọng.
Một số mặt hàng khác nhập khẩu từ Australia tăng cao như máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác +35,8% YoY, đạt 21,2 triệu USD; phế liệu sắt thép tăng 20% YoY, đạt 79,6 triệu USD.
Chế phẩm thực phẩm khác tăng 87% so với cùng kỳ năm trước, lên 14,4 triệu USD; dầu mỡ động thực vật tăng 56,3% YoY, đạt 13,6 triệu USD.
Ngược lại, sữa và sản phẩm sữa nhập khẩu từ Australia lại giảm 22,8% so với nửa đầu năm 2025, còn 51,2 triệu USD; sắt thép giảm 42,1% YoY, còn 7,4 triệu USD; dược phẩm giảm 4,2% YoY, đạt 27 triệu USD.
![]() |
| Đồ họa do AI hỗ trợ thực hiện. |
Ngày 9/8, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời Thủ đô Hà Nội lên đường thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand từ ngày 9 - 14/8/2026. |
Tối 9/8 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đến sân bay Sydney Kingsford Smith, bắt đầu thăm cấp Nhà nước tới Australia (từ ngày 9-12/8) theo lời mời của Toàn quyền Australia Sam Mostyn. |
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Việt Nam và Australia xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược kết nối về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với tầm nhìn dài hạn, coi đây là một trụ cột mới của quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện. |