Năm 2026, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng ở mức 3,7%, hướng tới trên 4%. Ngành đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản lập kỷ lục mới từ 73 - 74 tỷ USD.
Bàn về động lực tăng trưởng của ngành nông nghiệp giai đoạn tới, tại hội thảo "Động lực cho tăng trưởng kinh tế hai con số và triển vọng nông nghiệp 2026" diễn ra ngày 31/3, TS. Trần Công Thắng - Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã nhấn mạnh về các yếu tố như logistics, nhân lực, khoa học công nghệ, thị trường xuất khẩu...
![]() |
| Hội thảo quy tụ đại diện nhiều cơ quan quản lý, chuyên gia kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp, cùng phân tích các động lực tăng trưởng mới, nhận diện cơ hội và đề xuất giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, hướng tới một giai đoạn tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Phân tích rõ hơn, theo ông Thắng, chi phí logistics đang chiếm tỷ trọng quá lớn (khoảng 20 - 25% giá thành nông sản), do đó việc đầu tư vào hạ tầng logistics và chuỗi cung ứng sẽ là yêu cầu cấp thiết để ngành tăng khả năng cạnh tranh.
Trong khi đó, việc tăng cường đầu tư vào công nghệ chế biến sâu sẽ là "cú hích" để nâng cao giá trị sản phẩm, thay vì chỉ dừng lại ở tiêu thụ sản phẩm thô. Đồng thời, công tác nghiên cứu giống cây trồng, vật nuôi sẽ là yếu tố giúp cải thiện trực tiếp năng suất và chất lượng nông sản Việt Nam.
Mặt khác, việc tận dụng tiềm năng tài nguyên môi trường cũng giúp ngành mở ra những không gian phát triển mới. Đơn cử, việc phát triển điện gió ngoài khơi, khai thác hiệu quả kinh tế rừng theo hướng bền vững sẽ là những "mỏ vàng" để ngành gián tiếp thúc đẩy GDP.
Một yếu tố nữa không thể tách rời sự phát triển của ngành là vấn đề nguồn nhân lực. Theo ông Thắng, việc chuyển đổi từ tư duy "làm nông" sang "kinh tế nông nghiệp" đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ và kỹ năng mới. Hiện khu vực nông thôn có khoảng 1,6 triệu người trẻ chưa có việc làm ổn định, nếu được đào tạo bài bản, có năng lực chuyên môn, đây sẽ là lực lượng lao động tiềm năng của ngành trong giai đoạn phát triển mới.
Câu chuyện tăng trưởng cũng sẽ đi kèm với việc xây dựng một "hệ sinh thái ngành nông nghiệp" toàn diện. Nông nghiệp sẽ không chỉ đơn thuần sản xuất hàng hóa mà còn tạo ra giá trị từ việc liên kết chặt chẽ với các ngành khác như du lịch, tạo ra sản phẩm du lịch nông thôn.
![]() |
| Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường Trần Công Thắng chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Đối với xuất khẩu, đây vẫn sẽ là động lực quan trọng cho phát triển của ngành. Bởi theo ông Thắng: "Thị trường chính là 'yếu tố kéo' đối với sản xuất. Trong khi đó, nông nghiệp là ngành duy nhất luôn duy trì cán cân thương mại thặng dư. Tính riêng năm 2025, xuất siêu nông lâm thủy sản đã đạt khoảng 21 tỷ USD".
Chia sẻ rõ hơn về các yếu tố giúp tăng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản, trao đổi với Mekong ASEAN, TS Trần Công Thắng cho rằng, xuất khẩu sẽ phải tập trung vào ba trụ cột then chốt: sản xuất theo nhu cầu thị trường, tăng cường liên kết, chủ động mở rộng thị trường mới và giữ vững thị trường truyền thống.
Theo ông, các thị trường nhập khẩu lớn như EU hay Hàn Quốc đang dựng lên những hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật vô cùng khắt khe.
“Điều này buộc người sản xuất và doanh nghiệp phải thay đổi cách tiếp cận, không thể tiếp tục điệp khúc “sản xuất cái mình có” mà phải “sản xuất cái thị trường cần”. Mọi quy trình canh tác phải bám sát tín hiệu thị trường, đảm bảo chất lượng, an toàn thực phẩm và minh bạch truy xuất nguồn gốc, và dài hạn hơn là hướng tới sản xuất xanh và giảm phát thải,” ông Thắng nhận định.
Trong khi đó, chế biến sâu sẽ giúp nâng giá trị nông sản Việt, như từ một trái sầu riêng, doanh nghiệp Việt đã sản xuất ra sầu riêng sấy, kem sầu riêng; hay hạt cà phê được đẩy mạnh rang xay, chế biến hòa tan, từ đó tạo ra sự đa dạng cho sản phẩm đầu ra, tiếp cận nhiều phân khúc khách hàng.
Song song với đó, Nhà nước sẽ đóng vai trò “mở đường” cho xuất khẩu.
“Công tác đàm phán, dỡ bỏ rào cản kỹ thuật và xúc tiến thương mại cần được đẩy mạnh hơn. Bài học từ việc mất 12 năm để trái xoài Việt vào thị trường Nhật là một minh chứng. Nhờ rút kinh nghiệm, các sản phẩm nông sản sau này đã rút ngắn được thời gian đàm phán xuống còn 3 đến 5 năm, tạo dư địa lớn cho xuất khẩu,” ông Thắng phân tích.
![]() |
| Các diễn giả trao đổi về vai trò và hành động của doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Góp ý thêm về yếu tố giúp mở rộng không gian xuất khẩu, tại sự kiện do Báo Nông thôn Ngày nay/điện tử Dân Việt tổ chức, TS Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ Tài chính, Trường Đại học Đại Nam nhận định, việc nâng cao nền tảng công nghệ cho sản xuất nông nghiệp, nông thôn sẽ là chìa khóa giải quyết bài toán này.
“Thực tế, quy trình đưa nông sản Việt ra thị trường quốc tế hiện nay thường kéo dài từ 5 - 8 năm do chúng ta chưa có hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch, dẫn đến sự thiếu hụt niềm tin từ đối tác. Việc nâng cấp hạ tầng công nghệ sẽ giải quyết triệt để điểm nghẽn, giúp rút ngắn đáng kể thời gian đưa sản phẩm ra các thị trường mục tiêu,” ông Đức phân tích.
Đại diện Trường Đại học Đại Nam cũng kỳ vọng, việc ứng dụng công nghệ sẽ góp phần giải quyết căn bản bài toán mất cân đối cung cầu, từ đó chấm dứt tình trạng phải "giải cứu" nông sản diễn ra thường xuyên. Thông qua công nghệ dự báo và quản lý chuỗi cung ứng, ngành có thể giảm rủi ro thương mại, đảm bảo đầu ra ổn định và bảo vệ sinh kế bền vững cho người nông dân.
Tuy nhiên, mặc dù được đánh giá có vai trò quan trọng, nhưng thực tế khả năng đầu tư vào công nghệ để nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu của ngành nông nghiệp vẫn chưa cao.
Nhìn từ góc độ tín dụng cho nông nghiệp, theo TS Nguyễn Quốc Hùng - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam: "Nút thắt chính nằm ở việc người dân và doanh nghiệp nông nghiệp thiếu tài sản đảm bảo. Mặc dù ngành ngân hàng đã có những bước đổi mới mạnh mẽ trong chiến lược tài chính toàn diện, đưa vốn về tận cơ sở, nhưng khả năng tiếp cận vốn vẫn bị hạn chế bởi các quy định về tài sản thế chấp truyền thống".
Để giải quyết vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước hiện chú trọng cải thiện các nghiệp vụ thanh toán để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong việc cung ứng nguyên liệu xuất khẩu thay vì phụ thuộc nguồn vốn tự có.
Các chính sách ưu đãi cho nông nghiệp sẽ cần được cụ thể và thực chất hơn, đặc biệt là đầu tư vào hệ thống các viện nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có kiến thức thực tế để vận hành nông nghiệp hiện đại.
Mặt khác, nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn mới chỉ chiếm khoảng 11% tổng dư nợ tín dụng. Ông Hùng đề xuất: "Thay vì tập trung vào phát triển bất động sản để tận dụng tài nguyên đất đai một cách ngắn hạn, chúng ta nên hướng nguồn lực vào việc khai thác bền vững các thế mạnh về tài nguyên khoáng sản, kinh tế biển và nông nghiệp công nghệ cao".
Ông Hùng cho biết, Ngân hàng Nhà nước cũng đang tập trung nguồn lực rất lớn cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy sản và xuất khẩu chủ lực. Tôi kỳ vọng rằng những định hướng này của Đảng và Nhà nước sẽ được thực hiện đồng bộ, góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số trong tương lai, đưa nông nghiệp thực sự trở thành bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế quốc gia.
Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ, Mekong ASEAN đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến xoay quanh câu chuyện phát triển của ngành giai đoạn tới. |
Ngày 18/3, tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Bộ Tài chính Việt Nam tổ chức hội thảo về “Khoản vay chương trình cho chuyển đổi xanh hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu”. |
Khi lợi thế nhân công giá rẻ không còn là yếu tố quyết định trước các biến động địa chính trị toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi chiến lược. Việc nâng cấp nội lực, đa dạng hóa thị trường và định vị thương hiệu quốc gia uy tín được xem là những giải pháp trọng tâm cho bài toán cạnh tranh hiện nay. |
Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt lãi suất huy động và cho vay, đảm bảo thanh khoản, minh bạch thông tin và định hướng dòng vốn vào sản xuất kinh doanh, ổn định thị trường tiền tệ. |