Nghị định gồm 4 chương, 23 điều, quy định về phân loại tin giả, tin sai sự thật; nguyên tắc, quản lý Nhà nước và hợp tác quốc tế trong phòng, chống tin giả, tin sai sự thật; quy trình xử lý, biện pháp phòng, chống; thẩm quyền, trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác phòng, chống tin giả, tin sai sự thật.
![]() |
| Từ ngày 5/10/2026, tin giả, tin sai sự thật sẽ bị gắn nhãn, cảnh báo và gỡ bỏ. Ảnh minh hoạ: Hà Anh/Mekong ASEAN. |
Nghị định áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; các tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam; tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet, mạng xã hội và thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam hoặc cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Ngoài ra, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến vi phạm pháp luật về tin giả, tin sai sự thật gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc Việt Nam cũng thuộc phạm vi áp dụng, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Phân loại tin giả, tin sai sự thật
Phân loại theo độ nguy hại gồm:
Thứ nhất, tin giả, tin sai sự thật gây hậu quả hoặc có nguy cơ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Đây là những thông tin tác động tiêu cực trên quy mô lớn đến an ninh quốc gia, quốc phòng, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội; xâm hại uy tín của Đảng, Nhà nước, uy tín, danh dự của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước; hoặc có khả năng gây khủng hoảng truyền thông, kích động bạo loạn, gây hoang mang sâu sắc trong dư luận xã hội.
Thứ hai, tin giả, tin sai sự thật nguy hại. Nhóm này gồm những thông tin tác động trong phạm vi hẹp, xâm hại trực tiếp đến uy tín, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cụ thể.
Phân loại theo pháp luật về tiếp cận thông tin gồm tin giả, tin sai sự thật có chứa thông tin công dân không được tiếp cận; có chứa thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện; có chứa thông tin công dân được tiếp cận.
Quy trình xử lý tin giả, tin sai sự thật
Bước 1: Phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật. Thông tin có thể được phát hiện qua phản ánh, tố giác của cá nhân, cơ quan, tổ chức; hoạt động giám sát, rà soát, kiểm soát thông tin của cơ quan chức năng có thẩm quyền; hoặc qua hoạt động rà soát, cảnh báo của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp mạng xã hội và dịch vụ thông tin xuyên biên giới hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Ngoài ra, thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật có thể được phát hiện khi các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp chuyển yêu cầu đến cơ quan chức năng có thẩm quyền để kiểm chứng, xác minh, làm rõ; hoặc theo yêu cầu kiểm chứng, xác minh, làm rõ của nạn nhân, tổ chức bị ảnh hưởng bởi thông tin này.
Bước 2: Kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật.
Bước 3: Gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật. Sau khi có kết luận thông tin là tin giả, tin sai sự thật, đơn vị trực tiếp kiểm chứng thực hiện gắn nhãn tin giả, tin sai sự thật.
Bước 4: Công bố, cảnh báo tin giả, tin sai sự thật. Cơ quan, đơn vị trực tiếp kiểm chứng, xác minh, làm rõ thực hiện công bố, cảnh báo thông tin theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin.
Bước 5: Ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật.
Bước 6: Áp dụng các hình thức xử lý.
Nghị định số 328/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/10/2026.