Cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành dự kiến thông xe năm 2026

CAO TỐC giao thông
12:12 - 22/05/2024
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng trình bày tờ trình của Chính phủ.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng trình bày tờ trình của Chính phủ.
0:00 / 0:00
0:00
Cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành có 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100 - 120 km/giờ. Sơ bộ tổng mức đầu tư là 25.540 tỷ đồng.

Sáng 22/5, thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Giao thông Vận tải (GTVT) Nguyễn Văn Thắng trình Quốc hội báo cáo nghiên cứu tiền khả thi cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa (Đắk Nông) - Chơn Thành (Bình Phước).

Dự án dài khoảng 128,8 km, trong đó tuyến đi qua địa phận tỉnh Đăk Nông 27,8 km; qua địa phận tỉnh Bình Phước 101 km (bao gồm 2km kết nối với đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành - Đức Hòa).

Theo quy hoạch, cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành có 6 làn xe, giai đoạn 1 phân kỳ đầu tư 4 làn xe hoàn chỉnh theo đúng tiêu chuẩn, giải phóng mặt bằng thực hiện một lần theo quy hoạch (6 làn xe). Tốc độ thiết kế 100 - 120 km/giờ.

Sơ bộ tổng mức đầu tư 25.540 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước tham gia 12.770 tỷ đồng, gồm ngân sách Trung ương 10.536,5 tỷ đồng, ngân sách địa phương 2.233,5 tỷ đồng. Vốn nhà đầu tư tham gia 12.770 tỷ đồng.

Sơ bộ nhu cầu sử dụng đất của dự án khoảng 1.111 ha. Thời gian chuẩn bị dự án trong năm 2023 và 2024, thi công xây dựng từ năm 2025, phấn đấu hoàn thành trong năm 2026.

Để đẩy nhanh tiến độ dự án, Chính phủ kiến nghị Quốc hội bố trí 8.770 tỷ đồng từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi thường xuyên của ngân sách Trung ương năm 2022 và 1.500 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách Trung ương trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 để đầu tư dự án; cho phép kéo dài thời gian giải ngân đến hết năm 2026 đối với số vốn bố trí từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi thường xuyên của ngân sách Trung ương năm 2022 để thực hiện dự án.

Chính phủ cũng đề xuất phân chia dự án thành 5 dự án thành phần. Dự án thành phần 1 được áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi trong nước để lựa chọn nhà đầu tư. Giao UBND tỉnh Bình Phước chịu trách nhiệm là cơ quan đầu mối tổ chức thực hiện dự án nhằm bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ.

Cho phép người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định việc chỉ định thầu với các gói thầu tư vấn, gói thầu thực hiện đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Kiến nghị được áp dụng cơ chế đặc thù về khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như cơ chế đặc thù đã được Quốc hội thông qua...

TRÁNH TRƯỜNG HỢP PHẢI CHUYỂN SANG ĐẦU TƯ CÔNG

Nêu ý kiến của cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế (UBKT) Vũ Hồng Thanh cho biết, việc đầu tư dự án sẽ từng bước hoàn thành mạng lưới cao tốc theo quy hoạch, mở ra không gian phát triển mới cho các địa phương và tăng cường liên kết vùng nói chung và liên kết nội vùng nói riêng. Dự án sẽ tạo động lực, sức lan tỏa, thuận lợi kết nối với Cảng Hàng không quốc tế Long Thành và cảng Cái Mép - Thị Vải, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, giúp tăng cường việc bảo đảm quốc phòng, an ninh.

UBKT cơ bản nhất trí với quy mô đầu tư của dự án, tuy nhiên một số ý kiến đề nghị cân nhắc mở rộng đầu tư đoạn kết nối 2 km của dự án theo quy mô 4 làn xe tiêu chuẩn TCVN 5729:2012, để bảo đảm kết nối đồng bộ nhằm phát huy hiệu quả đầu tư đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Chơn Thành đang triển khai đầu tư.

Chủ nhiệm UBKT Vũ Hồng Thanh trình bày báo cáo thẩm tra.

Chủ nhiệm UBKT Vũ Hồng Thanh trình bày báo cáo thẩm tra.

Về phương thức đầu tư, Chính phủ kiến nghị đầu tư dự án theo phương thức đối tác công tư. Tuy nhiên, thực tế triển khai các dự án thời gian qua cho thấy việc thu hút các nhà đầu tư, tổ chức tín dụng tham gia đầu tư các dự án gặp nhiều khó khăn. Do đó, UBKT đề nghị bổ sung các cơ sở để bảo đảm tính khả thi cho dự án, tránh trường hợp phải chuyển đổi sang hình thức đầu tư công.

Theo Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, có 2 dự án BOT song hành với dự án là dự án BOT Cầu 38 - thị xã Đồng Xoài và dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ 14 đoạn Km817 - Km887 (tỉnh Đắk Nông), nên việc đầu tư dự án sẽ làm giảm doanh thu và thay đổi phương án tài chính dự kiến ban đầu của các dự án này. Do đó, UBKT đề nghị bổ sung giải pháp cụ thể hơn đối với phương án xử lý các dự án giao thông BOT song hành để Quốc hội có cơ sở xem xét, quyết định.

Về các cơ chế, chính sách triển khai dự án, UBKT cho rằng việc Chính phủ kiến nghị cho phép áp dụng các cơ chế chỉ định thầu là phù hợp, thực tế thời gian qua Quốc hội đã cho phép áp dụng cơ chế này đối với một số dự án. Tuy nhiên, đề nghị cần có các giải pháp trong quá trình tổ chức thực hiện bảo đảm công khai, minh bạch, không để trục lợi chính sách, thất thoát, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm.

Tin liên quan

Đọc tiếp