![]() |
| Arnh minh hoạ: Bộ Giáo dục và Đào tạo. |
Cơ quan soạn thảo đề xuất mức điều chỉnh tăng lương cơ sở từ 2,34 triệu đồng/tháng lên 2,53 triệu đồng/tháng (tương ứng tăng khoảng 8%) và áp dụng từ 1/7/2026.
Mức lương cơ sở này dùng làm căn cứ tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời, dùng tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.
Theo Bộ Nội vụ, dù đã có bước điều chỉnh mạnh vào năm 2024 (tăng từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng/tháng, tương đương tăng 30%), song mức lương cơ sở hiện hành vẫn còn thấp so với khu vực doanh nghiệp. Cụ thể, mức 2,34 triệu đồng/tháng chỉ bằng khoảng 56,12% mức lương tối thiểu vùng bình quân của khu vực doanh nghiệp.
Ngoài ra, thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính các cấp và thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; thực hiện quy định của các pháp luật liên quan mới được sửa đổi như: luật Cán bộ, công chức năm 2025, luật Viên chức năm 2025…, một số nhóm đối tượng áp dụng tại Nghị định 73 ban hành năm 2024 về điều chỉnh tăng lương cơ sở không còn phù hợp.
"Việc tăng lương cơ sở lên 2,53 triệu đồng/tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang là cần thiết. Việc này tạo động lực làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, góp phần cải thiện đời sống của người hưởng lương, phụ cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị," theo Bộ Nội vụ.
Giữ nguyên cơ chế thưởng, rà soát thu nhập đặc thù
Một điểm đáng chú ý trong dự thảo là rà soát, sửa đổi quy định đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở trung ương.
Theo đó, đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng các cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù ở Trung ương: Thực hiện bảo lưu phần chênh lệch giữa tiền lương và thu nhập tăng thêm tháng 6 năm 2026 của cán bộ, công chức, viên chức với tiền lương từ ngày 01/7/2026 sau khi sửa đổi hoặc bãi bỏ cơ chế tài chính và thu nhập đặc thù.
Trong thời gian chưa sửa đổi hoặc bãi bỏ các cơ chế này thì thực hiện mức tiền lương và thu nhập tăng thêm hằng tháng tính theo mức lương cơ sở 2,53 triệu đồng/tháng theo cơ chế đặc thù từ ngày 1/7/2026 bảo đảm không vượt quá mức tiền lương và thu nhập tăng thêm được hưởng tháng 6 năm 2026 (không bao gồm phần tiền lương và thu nhập tăng thêm do điều chỉnh hệ số tiền lương ngạch, bậc khi nâng ngạch, nâng bậc).
Trường hợp tính theo nguyên tắc trên, nếu mức tiền lương và thu nhập tăng thêm từ ngày 1/7/2026 theo cơ chế đặc thù thấp hơn mức tiền lương theo quy định chung thì thực hiện chế độ tiền lương theo quy định chung.
Về chế độ tiền thưởng, dự thảo Nghị định giữ nguyên chính sách tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP. Đồng thời, sửa đổi, hoàn thiện quy định về xử lý số dư quỹ tiền thưởng cuối năm để bảo đảm nguyên tắc quỹ tiền thưởng năm nào gắn với việc thưởng thành tích năm đó và tránh phát sinh các cách hiểu khác nhau trong thực hiện.
Dự thảo Nghị định cũng quy định rõ các nguồn kinh phí để thực hiện điều chỉnh mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng. Ngân sách trung ương sẽ bổ sung phần còn thiếu cho các Bộ, ngành và địa phương sau khi đã sử dụng các nguồn theo quy định.
| Theo dự thảo Nghị định, Đối tượng áp dụng gồm: Người hưởng lương, phụ cấp áp dụng mức lương cơ sở quy định tại Nghị định này, bao gồm: a) Cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã quy định tại Điều 1 Luật Cán bộ, công chức; b) Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Điều 1 Luật Viên chức; c) Người làm các công việc theo chế độ hợp đồng lao động quy định tại Nghị định số 111/2022/NĐ-CP ngày 30/12/2022 của Chính phủ về hợp đồng đối với một số loại công việc trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trường hợp được áp dụng hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng lao động áp dụng xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; d) Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế tại các hội được ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động theo quy định tại Nghị định số 126/2024/NĐCP ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; e) Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, công nhân, công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân; g) Người làm việc trong tổ chức cơ yếu; h) Hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; hạ sĩ quan và chiến sĩ nghĩa vụ thuộc Công an nhân dân; Người hưởng lương quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên (không bao gồm đối tượng hưởng phụ cấp, sinh hoạt phí) thuộc đối tượng áp dụng chế độ tiền thưởng. |