Đánh giá về kết quả xuất khẩu đầu năm 2026, trao đổi với Mekong ASEAN, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) Ngô Sỹ Hoài nhận định, trong 5 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,1 tỷ USD (bình quân mỗi tháng trên 1,4 tỷ USD), tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2025.
Riêng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, các nhóm sản phẩm chế biến sâu ước đạt 4,5 tỷ USD, giảm 4% so với cùng kỳ năm trước.
Ông Hoài cho rằng, thời gian qua, các doanh nghiệp đã chủ động tái cơ cấu thị trường, giảm phụ thuộc vào một vài khách hàng lớn, đồng thời tăng cường đầu tư vào thiết kế, chuyển đổi số, quản trị chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc. “Đây là những yếu tố giúp năng lực chống chịu của ngành được cải thiện đáng kể,” ông Ngô Sỹ Hoài nói.
Dù vậy, Phó Chủ tịch Viforest cũng cho rằng, tăng trưởng hiện nay vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn, đặc biệt là “ma trận thuế của Mỹ”, chi phí đầu vào (nguyên vật liệu, nhân công, logistics, tài chính…) tăng nhiều, ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ngoài ra, các thị trường tiêu dùng đang thay đổi nhanh theo hướng xanh hóa, giảm phát thải và yêu cầu minh bạch toàn bộ chuỗi cung ứng, tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp ngành gỗ.
Tại các thị trường, Mỹ hiện vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành gỗ Việt Nam. Tuy nhiên, cùng với quy mô thương mại ngày càng lớn, các yêu cầu kiểm soát của nước này cũng đang được siết chặt hơn, không chỉ ở việc gia tăng mạnh các biện pháp phòng vệ thương mại, mà còn liên quan đến nguồn gốc nguyên liệu, lao động, môi trường và tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
“Tôi cho rằng, đây không còn là những biện pháp mang tính ngắn hạn mà đang trở thành xu hướng quản trị thương mại mới mang tính cấu trúc và dài hạn. Các doanh nghiệp sẽ phải chuyển từ tư duy cạnh tranh chủ yếu bằng giá sang cạnh tranh bằng năng lực tuân thủ, chủ động thích ứng, minh bạch và phát triển bền vững,” ông Ngô Sỹ Hoài nhận định.
Dự báo xuất khẩu gỗ nửa sau năm 2026
Từ nền tảng đầu năm, Phó Chủ tịch Viforest cho rằng, nửa cuối năm 2026 sẽ tiếp tục là giai đoạn có cả cơ hội và thách thức đối với ngành gỗ Việt Nam. Trong bối cảnh đó, ngành gỗ Việt Nam cần tiếp tục kiên định với định hướng phát triển bền vững, minh bạch và nâng cao giá trị gia tăng.
Về mặt tích cực, nhu cầu tiêu dùng tại một số thị trường lớn đang có tín hiệu phục hồi dần, đặc biệt là nhóm hàng nội thất trung và cao cấp.
Tuy nhiên, triển vọng của ngành sẽ phụ thuộc rất lớn vào một số biến số quan trọng. Thứ nhất là chính sách thương mại và thuế quan của Mỹ, đặc biệt là Điều tra 301 về dư thừa công suất và mới đây là Điều tra 301 liên quan đến vi phạm sở hữu trí tuệ.
Thứ hai là tiến độ triển khai các quy định xanh, bao gồm cả năng lực tuân thủ quy định EUDR về không gây mất rừng và suy thoái rừng và yêu cầu giảm phát thải trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngoài ra, các yếu tố như biến động địa chính trị, chi phí vận tải quốc tế, lãi suất, tỷ giá và sức mua của người tiêu dùng toàn cầu cũng sẽ tác động trực tiếp đến đơn hàng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp gỗ Việt Nam.
Mặt khác, xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng trong ngành gỗ sẽ diễn ra mạnh hơn. Các nhà nhập khẩu quốc tế hiện không chỉ quan tâm đến giá thành mà còn đánh giá rất kỹ hồ sơ tuân thủ của nhà cung cấp. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình sàng lọc tự nhiên trong ngành, hướng tới một mô hình phát triển chuyên nghiệp và bền vững hơn.
Làm mới cách tiếp cận thị trường cũ
![]() |
| Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Viforest Ngô Sỹ Hoài. Ảnh: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động và các thị trường lớn liên tục thay đổi “luật chơi”, ông Ngô Sỹ Hoài cho rằng, doanh nghiệp sẽ cần tập trung vào một số chiến lược chuyển đổi cốt lõi.
Thứ nhất là đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm giảm phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường truyền thống. Bên cạnh việc làm mới cách tiếp cận các thị trường cũ như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và EU, doanh nghiệp cần quan tâm nhiều hơn đến các thị trường tiềm năng như Trung Đông, Ấn Độ, Nam Mỹ, một số nước ASEAN.
Những doanh nghiệp có năng lực quản trị tốt, chủ động minh bạch hóa chuỗi cung ứng sẽ có cơ hội giữ vững thị phần và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ngược lại, các doanh nghiệp phụ thuộc vào gia công đơn giản, thiếu tính minh bạch hoặc phụ thuộc quá lớn vào một thị trường sẽ chịu áp lực rất lớn, ông Hoài nói.
Thứ hai là chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững. Đây không còn là xu hướng lựa chọn mà đang trở thành điều kiện bắt buộc để tiếp cận thị trường quốc tế. Doanh nghiệp cần đầu tư cho chứng chỉ rừng, giảm phát thải carbon, sử dụng năng lượng tái tạo và tối ưu hóa sử dụng nguyên liệu.
Doanh nghiệp cũng sẽ phải đầu tư nhiều hơn cho hệ thống truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường – xã hội và quản trị rủi ro thương mại.
Thứ ba là nâng cao giá trị gia tăng thông qua thiết kế, thương hiệu và phát triển sản phẩm. Ngành gỗ Việt Nam cần từng bước giảm phụ thuộc vào gia công đơn thuần, tăng tỷ lệ sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Về phía chính sách, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam kiến nghị Nhà nước tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý minh bạch và ổn định cho hoạt động xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp trong việc cập nhật và đáp ứng các quy định mới của thị trường quốc tế, đặc biệt là các yêu cầu liên quan đến EUDR, chống bán phá giá, chống lẩn tránh thuế và truy xuất nguồn gốc.
Bên cạnh đó, cần có các chính sách tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp chế biến gỗ, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đang đầu tư chuyển đổi xanh và thay đổi công nghệ. Đồng thời, cần đẩy mạnh phát triển vùng nguyên liệu trong nước có chứng chỉ bền vững và có gỗ lớn, chất lượng nguyên liệu tốt hơn nhằm nâng cao tính chủ động của chuỗi cung ứng và giảm phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
"Tôi tin rằng nếu doanh nghiệp chủ động chuyển đổi và có sự đồng hành hiệu quả từ phía Nhà nước, ngành gỗ Việt Nam vẫn sẽ duy trì được vị thế là một trong những trung tâm chế biến và xuất khẩu gỗ quan trọng của thế giới," Phó Chủ tịch Viforest Ngô Sỹ Hoài nhấn mạnh.
Việt Nam và Ấn Độ có thể hình thành chuỗi cung ứng mang tính bổ trợ rất hiệu quả, trong đó Ấn Độ cung cấp nguyên liệu và Việt Nam chế biến, phát triển sản phẩm giá trị gia tăng. |
Không chỉ là thị trường xuất khẩu nông sản quan trọng, Philippines còn đang mở ra nhiều cơ hội hợp tác mới trong các lĩnh vực như xe điện, chăn nuôi, hàng không... với các doanh nghiệp Việt Nam. |