![]() |
| Ảnh minh họa: Lê Hồng Nhung - Mekong ASEAN |
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam riêng trong tháng 7/2026 ước đạt 6,67 tỷ USD, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước (YoY).
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này ước đạt gần 42,8 tỷ USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2025.
Năm 2026, ngành nông nghiệp và môi trường đặt mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản đạt 74 tỷ USD. Với kết quả 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đã hoàn thành 58% kế hoạch năm.
Trong kỳ, trị giá xuất khẩu hàng nông sản đạt gần 22,2 tỷ USD, tăng 2,4% YoY; sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2% YoY; thủy sản đạt 6,85 tỷ USD, tăng 12,7% YoY. Kim ngạch xuất khẩu lâm sản đạt 10,96 tỷ USD, tăng 5,8% YoY; đầu vào sản xuất đạt 2,32 tỷ USD, tăng 71,1% YoY; xuất khẩu muối đạt 8,8 triệu USD, tăng 40,2% YoY,
Xét theo thị trường chi tiết, ba thị trường xuất khẩu nông lâm thủy sản lớn nhất lần lượt là Trung Quốc với thị phần 21,9%, Mỹ với thị phần 19% và Nhật Bản với thị phần 6,8%. So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá xuất khẩu nông lâm thủy sản sang Trung Quốc tăng 24,4%, Nhật Bản tăng 3,9%, Mỹ lại giảm 1,6%.
Xuất khẩu một số mặt hàng chính
Diễn biến xuất khẩu một số mặt hàng nông sản trong 7 tháng đầu năm chứng kiến tình huống lượng bù cho giá. Đối với xuất khẩu Cà phê trong 7 tháng đầu năm 2026, dù tăng 10,8% YoY về khối lượng (lên 1,2 triệu tấn) nhưng lại giảm 11,2% YoY về trị giá (đạt 5,45 tỷ USD). Nguyên nhân chủ yếu là do mức giá xuất khẩu bình quân giảm 19,9% so với cùng kỳ năm trước, còn đạt 4.537 USD/tấn.
Xuất khẩu mặt hàng gạo cũng tăng 0,5% YoY về khối lượng, lên 5,5 triệu tấn. Tuy nhiên, do giá gạo xuất khẩu bình quân giảm 7,1% YoY (đạt 476,6 USD/tấn), nên trị giá xuất khẩu cũng giảm 6,7% YoY, xuống còn 2,64 tỷ USD.
Cao su xuất khẩu trong kỳ giảm lần lượt 12,3% YoY về lượng (còn 789.500 tấn) và 4,5% YoY về kim ngạch (đạt 1,5 tỷ USD). Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này đạt 1.963 USD/tấn, tăng 8,9% YoY.
Trái ngược với đà giảm trên, hàng rau quả xuất khẩu trong kỳ tăng tới 24,9% YoY, lên mức 4,83 tỷ USD; thủy sản tăng 12,7% YoY, đạt 6,85 tỷ USD; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 5,5% YoY, đạt 10,2 tỷ USD.
Kim ngạch và lượng xuất khẩu hạt điều tăng lần lượt 3,7% và 0,3% so với cùng kỳ năm trước, lên 2,91 tỷ USD và 413.700 tấn; giá xuất khẩu trung bình ước đạt 7.035 USD/tấn, tăng 3,4% YoY.
Hạt tiêu xuất khẩu tăng 16,1% về khối lượng (lên 167.900 tấn) và tăng 10,6% YoY về trị giá (1,09 tỷ USD). Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng này giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước, còn 6.516 USD/tấn.
Sắn và sản phẩm từ sắn tăng 18% về giá xuất khẩu bình quân, lên mức 359,4 USD/tấn. Nhờ vậy, dù giảm tới 15,4% về khối lượng (còn 2,1 triệu tấn), kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này cũng chỉ giảm nhẹ 0,2% YoY (đạt 755,4 triệu USD).
Chè xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2026 giảm nhẹ 1,5% so với cùng kỳ năm trước, còn 119 triệu USD. Kết quả này chịu sự tác động từ lượng xuất khẩu chè giảm 8,4% YoY (còn 65.500 tấn) và giá xuất khẩu bình quân tăng 7,6% YoY, lên gần 1.816 USD/tấn.
Trong kỳ, trị giá xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 455 triệu USD, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm trước. Bao gồm, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 124,2 triệu USD, tăng 95,3% YoY; thịt, phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 132,8 triệu USD, tăng 13,3% YoY.
Nhập khẩu nông lâm thủy sản
Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, nhập khẩu nông lâm thủy sản tháng 7/2026 ước đạt 4,5 tỷ USD, giảm 1,6% so với tháng trước và tăng 8% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, tổng trị giá nhập khẩu nông lâm thủy sản ước đạt 31,13 tỷ USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu hàng nông sản đạt 19,88 tỷ USD, tăng 15,4% YoY; sản phẩm chăn nuôi đạt 3,18 tỷ USD, tăng 24,9% YoY; thủy sản đạt 1,85 tỷ USD, giảm 1,7% YoY.
Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng lâm sản đạt 2,18 tỷ USD, tăng 17,8% YoY; đầu vào sản xuất ở mức 4,03 tỷ USD, giảm 11,8% YoY; muối đạt 24 triệu USD, tăng 18,2% YoY.
Xét theo vùng lãnh thổ, Việt Nam nhập khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản nhiều nhất từ khu vực châu Á và châu Mỹ với thị phần lần lượt là 31,4% và 23,3%. Thị phần của 3 khu vực châu Âu, châu Đại Dương và châu Phi lần lượt là 4%, 3,4% và 3,4%.
Xét theo thị trường chi tiết, Mỹ, Trung Quốc, và Campuchia là 3 thị trường cung cấp mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 10,3%, 9,8% và 8%. So với cùng kỳ năm trước, ước trị giá nhập khẩu nhóm hàng này từ Mỹ tăng 24,1%, Trung Quốc tăng 13% và Campuchia tăng 27,7%.
Đây là yêu cầu được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đặt ra cho ngành nông nghiệp và môi trường tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 chiều ngày 2/7. |
Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Môi trường rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, môi trường, khoáng sản; hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính. |
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 815/QĐ-TTg ngày 7/5/2026 về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) và phát triển bền vững ngành thủy sản. |
Chiều 25/5, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng và Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đồng chủ trì cuộc họp cho ý kiến về dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. |
Nhóm công tác được kỳ vọng là đầu mối kết nối chính sách, chuyên gia, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế nhằm triển khai dự án hợp tác giữa Việt Nam và các nước trong lĩnh vực nông nghiệp. |
Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị quán triệt sâu sắc quan điểm, định hướng của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành TW, bám sát và thể chế hóa đầy đủ quan điểm đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia. |