Số liệu từ Cục Hải quan cho biết, trong kỳ, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Mỹ tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước (YoY), trong đó có 9 mặt hàng đạt giá trị tỷ USD, với tổng 44,4 tỷ USD, chiếm 82% tỷ trọng.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất sang Mỹ với 17,1 tỷ USD, tăng 59,7% YoY.
Các mặt hàng đứng sau bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác đạt 8,6 tỷ USD, tăng 21,2% so với cùng kỳ; điện thoại và linh kiện với 3,7 tỷ USD, tăng 7,9% YoY; phương tiện vận tải và phụ tùng với 1,3 tỷ USD, tăng 25,3% YoY; đồ chơi, dụng cụ, thể thao và bộ phận với 1,19 tỷ USD, tăng 3,4% YoY.
Ở nhóm dệt may, Việt Nam xuất khẩu giày dép sang thị trường này với 3,02 tỷ USD, tăng 7,3% YoY; dệt may với 5,3 tỷ USD, tăng 3% YoY.
Việt Nam còn thu về tỷ USD từ xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ (với 2,7 tỷ USD, giảm 6,4% YoY); sản phẩm từ chất dẻo với 1,28 tỷ USD, tăng 15,5% YoY.
Ngoài nhóm tỷ USD, một số mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ tăng cao như dây điện và dây cáp điện tăng 27,4% YoY, lên mức 558 triệu USD; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 28,9% YoY, đạt 546 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu túi xách, ví vali, mũ ô dù tăng 20,9% YoY, đạt 700 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép tăng 16,4% YoY, lên 544 triệu USD; sắt thép tăng 24,8% YoY, đạt 300 triệu USD; sản phẩm từ cao su tăng 13,9% YoY, đạt 229 triệu USD; giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,7% YoY, lên 278 triệu USD.
Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu kim loại thường khác giảm 83% YoY, còn 54 triệu USD; xơ sợi dệt giảm 12% YoY, đạt 63 triệu USD; vải mành, vải kỹ thuật giảm 1,9% YoY, đạt 65 triệu USD; cao su giảm 9,9% YoY, còn 14,5 triệu USD.
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam thu về 310 triệu USD từ xuất khẩu hạt điều, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; cà phê với 251 triệu USD, tăng 6,4% YoY; rau quả đạt 178 triệu USD, tăng 15,9% YoY; chè tăng 13,3% YoY, đạt 3,4 triệu USD; hạt tiêu tăng 34% YoY, lên 177 triệu USD.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản lại giảm 3% so với cùng kỳ, còn 515 triệu USD; gạo giảm 10,4% YoY, đạt 9,4 triệu USD.
Việt Nam cũng thu về 4,1 tỷ USD để xuất khẩu hàng hóa khác từ Mỹ, tăng 45% so với cùng kỳ. Các mặt hàng cụ thể không được Cục Hải quan công bố.
Nhập khẩu một mặt hàng trên tỷ USD
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam chi 7,02 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng duy nhất Việt Nam chi tỷ USD để nhập từ Mỹ với 1,8 tỷ USD, tăng nhẹ 0,2% YoY.
Các mặt hàng đứng sau lần lượt là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 500 triệu USD, tăng 47,2% YoY; bông với 511 triệu USD, tăng 14,9% YoY; chất dẻo nguyên liệu với 410 triệu USD, tăng 18,5% YoY.
Việt Nam còn chi 290 triệu USD để nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu từ Mỹ, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 244 triệu USD, tăng 106% so với mức 118 triệu USD tại cùng kỳ; hóa chất tăng 60% YoY, đạt 234 triệu USD.
Kim ngạch nhập khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng tới 1.172% YoY, từ 10,9 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên 138 triệu USD; quặng và khoáng sản khác tăng 242% YoY, từ 6,6 triệu USD lên 22,6 triệu USD; ô tô nguyên chiếc tăng 105% YoY, đạt 11,1 triệu USD; sản phẩm từ kim loại thường tăng 133% YoY, lên 29,9 triệu USD.
Việt Nam giảm nhập khẩu một số mặt hàng từ Mỹ như phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 11,6% YoY, còn 158 triệu USD; nguyên phụ liệu dệt may, da giày giảm 8,8% YoY, đạt 129 triệu USD; dược phẩm giảm 41,6% YoY, xuống mức 87,8 triệu USD; chế phẩm thực phẩm khác giảm 9,8% YoY, đạt 88 triệu USD.
Ở nhóm nông thủy sản, Việt Nam chi 277 triệu USD để nhập khẩu rau quả, tăng 36,9% so với cùng kỳ; đậu tương đạt 282 triệu USD, tăng 51% YoY.
Sữa và sản phẩm sữa nhập khẩu tăng 75,7% so với cùng kỳ, lên 51 triệu USD; thủy sản tăng 86,3% YoY, ở mức 35,4 triệu USD. Lúa mì giảm 29,5% so với cùng kỳ, còn 31,9 triệu USD.
Việt Nam cũng chi 1,17 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa khác từ Mỹ, tăng 75% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng cụ thể không được Cục Hải quan công bố.