![]() |
| Ngày 12/5, Cục Điện lực (Bộ Công Thương) công bố Bộ Cẩm nang công nghệ ngành điện 2026. Ảnh: Ngọc Linh |
Cẩm nang Công nghệ này được xây dựng bởi Cục Điện lực (Bộ Công Thương), Viện Năng lượng, Cục Năng lượng Đan Mạch và Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Đối tác Năng lượng Việt Nam – Đan Mạch (DEPP3).
Đây là lần xuất bản thứ ba của Bộ Cẩm nang Công nghệ Việt Nam, đồng thời cũng là phiên bản có phạm vi rộng nhất từ trước tới nay khi mở rộng từ lĩnh vực phát điện sang lưu trữ năng lượng, chuyển đổi điện tái tạo thành nhiên liệu mới và hạ tầng truyền tải, vận chuyển năng lượng.
Bộ tài liệu gồm ba hợp phần: Cẩm nang Công nghệ Việt Nam về Sản xuất điện; Cẩm nang Công nghệ Việt Nam về Lưu trữ điện năng, nhiên liệu tái tạo và các công nghệ chuyển đổi điện thành nhiên liệu mới; Cẩm nang Công nghệ Việt Nam về Truyền tải và Vận chuyển năng lượng.
Nếu các phiên bản trước chủ yếu tập trung vào các nguồn điện như nhiệt điện, điện gió hay điện mặt trời, bộ cẩm nang năm nay tiếp cận rộng hơn theo hướng bao quát toàn bộ chuỗi năng lượng, từ sản xuất, lưu trữ tới vận chuyển.
Trong mỗi cẩm nang, các công nghệ được trình bày theo cùng một cấu trúc, bao gồm: nguyên lý hoạt động, thông số kỹ thuật, hiệu suất, chi phí đầu tư, chi phí vận hành, tuổi thọ, thời gian xây dựng, nhu cầu không gian, tác động môi trường, triển vọng phát triển.
Cách tiếp cận này giúp đưa các công nghệ về cùng một “mặt bằng dữ liệu” để có thể so sánh trực tiếp với nhau.
Ví dụ, khi xem xét giữa điện gió ngoài khơi, pin lưu trữ, điện khí LNG hay hydrogen xanh, cơ quan hoạch định chính sách hoặc nhà đầu tư không chỉ nhìn vào chi phí xây dựng ban đầu mà còn có thể đối chiếu thêm hiệu suất vận hành, tuổi thọ công nghệ, khả năng tích hợp vào hệ thống điện và các chi phí dài hạn khác.
![]() |
| Bà Giada Venturini, Trưởng nhóm chuyên gia Chương trình DEPP Việt Nam, Cục Năng lượng Đan Mạch trình bày các mục tiêu, phương pháp luận và xu hướng chính của bộ Cẩm nang công nghệ ngành điện. Ảnh: Ngọc Linh |
Theo ban xây dựng tài liệu, một nguyên tắc quan trọng của bộ cẩm nang là ưu tiên sử dụng các nguồn dữ liệu công khai, minh bạch và có thể kiểm chứng, kết hợp với ý kiến chuyên gia trong những trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm tính nhất quán của dữ liệu.
Không chỉ đóng vai trò tài liệu tham khảo, bộ cẩm nang còn được định hướng như một công cụ hỗ trợ ra quyết định cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu và các đơn vị lập quy hoạch năng lượng.
Phát biểu tại lễ công bố ngày 12/5, ông Trịnh Quốc Vũ, Phó Cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), cho biết với quy mô dân số hơn 100 triệu người cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua, nhu cầu năng lượng và điện năng của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới.
Theo Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, trong giai đoạn 2026-2030, nếu kinh tế duy trì mức tăng trưởng khoảng 10%/năm, nhu cầu điện được dự báo tăng xấp xỉ 12% mỗi năm.
Tuy nhiên, khác với giai đoạn trước, khi ưu tiên lớn nhất là bảo đảm đủ điện, ngành năng lượng hiện phải giải quyết đồng thời nhiều mục tiêu: giảm phát thải khí nhà kính, tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu nhập khẩu, nâng cao tính linh hoạt của hệ thống điện, và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về điện sạch từ chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điều này khiến bài toán năng lượng trở nên phức tạp hơn nhiều.
Nếu trước đây, trọng tâm chủ yếu nằm ở xây thêm nhà máy điện, thì hiện nay hệ thống điện còn phải giải quyết thêm các vấn đề như lưu trữ năng lượng, điều độ công suất theo thời gian thực, truyền tải điện từ xa và vận hành lưới điện với tỷ trọng lớn điện gió, điện mặt trời.
Đó cũng là lý do bộ cẩm nang lần này không chỉ dừng ở công nghệ phát điện.
Một trong những phần được mở rộng đáng kể là cẩm nang về lưu trữ điện năng, nhiên liệu tái tạo và các công nghệ chuyển đổi điện thành nhiên liệu mới (Power-to-X). Tài liệu tập trung vào ba nhóm công nghệ chính.
Nhóm thứ nhất là các công nghệ lưu trữ năng lượng như pin lưu trữ và thủy điện tích năng nhằm giúp cân bằng cung – cầu điện năng và tăng khả năng vận hành linh hoạt của hệ thống điện.
Nhóm thứ hai là các công nghệ sản xuất nhiên liệu tái tạo, cho phép chuyển đổi điện tái tạo thành các dạng nhiên liệu có thể lưu trữ và vận chuyển.
Nhóm thứ ba là các công nghệ Power-to-X, cho phép "đóng gói" điện từ gió hoặc mặt trời thành hydrogen xanh, ammonia xanh và nhiên liệu tổng hợp phục vụ các lĩnh vực khó điện hóa như công nghiệp nặng, vận tải biển hay hóa chất.
Điện gió và điện mặt trời có thể tạo ra lượng điện rất lớn, nhưng nguồn điện này biến động theo thời tiết và thời gian trong ngày. Buổi trưa có thể dư thừa điện mặt trời, trong khi buổi tối hệ thống lại thiếu điện. Có ngày gió mạnh, nhưng cũng có ngày công suất điện gió giảm sâu.
Vì vậy, câu chuyện của hệ thống điện hiện không chỉ là “sản xuất được bao nhiêu điện”, mà còn là lưu trữ, điều phối và sử dụng nguồn điện đó hiệu quả tới đâu.
Bên cạnh nguồn điện và lưu trữ, bộ cẩm nang lần đầu đưa vào hợp phần riêng về truyền tải và vận chuyển năng lượng. Đây là lĩnh vực ít được chú ý hơn các dự án phát điện, nhưng lại đang trở thành một trong những điểm nghẽn lớn của quá trình chuyển dịch năng lượng.
![]() |
| Bà Phạm Thu Trà My, cán bộ Phòng Phát triển hệ thống điện, Viện Năng lượng trình bày giới thiệu nội dung bộ Cẩm nang công nghệ. Ảnh: Ngọc Linh |
Cẩm nang hệ thống hóa dữ liệu cho nhiều công nghệ như: truyền tải điện AC và DC; đường dây trên không; cáp ngầm và cáp biển; đường ống khí; vận chuyển nhiên liệu bằng tàu biển, đường sắt và xe tải; hệ thống vận chuyển nhiên liệu hạt nhân.
Việc bổ sung hợp phần này cho thấy cách tiếp cận mới của quy hoạch năng lượng: ngành điện không còn được nhìn như tập hợp của các nhà máy riêng lẻ, mà là một chuỗi liên kết từ sản xuất, lưu trữ tới vận chuyển và tiêu thụ năng lượng.
Điều này đặc biệt quan trọng với các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi hay hydrogen xanh, nơi khoảng cách từ khu vực sản xuất tới nơi tiêu thụ có thể lên tới hàng trăm km và đòi hỏi hạ tầng truyền tải hoàn toàn mới.
Bộ Cẩm nang Công nghệ ngành điện Việt Nam được phát triển trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Đối tác Năng lượng Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn 3 (DEPP3).
Theo ông Trịnh Quốc Vũ, trong khuôn khổ chương trình này, hai bên đang triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực quy hoạch năng lượng dài hạn cho Việt Nam, bao gồm xây dựng cơ sở dữ liệu, mô hình hóa các kịch bản năng lượng và hỗ trợ phát triển điện gió ngoài khơi.
Các hợp phần hợp tác tập trung vào quy hoạch năng lượng dài hạn, điện gió ngoài khơi, tích hợp năng lượng tái tạo, và hiệu quả năng lượng trong công nghiệp.
Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam Nicolai Prytz nhận định những biến động địa chính trị thời gian qua cho thấy hệ thống năng lượng toàn cầu rất nhạy cảm trước các cú sốc về nguồn cung và chi phí năng lượng. Theo ông Nicolai Prytz, Việt Nam có tiềm năng lớn về điện gió và điện mặt trời, đồng thời đang nằm trong nhóm quốc gia phát triển năng lượng tái tạo nhanh trong khu vực. Tuy nhiên, để duy trì tăng trưởng cao và tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần thúc đẩy quá trình chuyển dịch năng lượng.
Ông cho rằng Bộ Cẩm nang Công nghệ ngành điện Việt Nam sẽ là cơ sở phục vụ quy hoạch và phát triển hệ thống năng lượng xanh, thông minh và hiệu quả hơn trong tương lai.
Điểm đáng chú ý trong hợp tác Việt Nam – Đan Mạch là trọng tâm không chỉ nằm ở chuyển giao công nghệ phát điện. Điều phía Đan Mạch hỗ trợ nhiều hơn là kinh nghiệm vận hành hệ thống điện có tỷ trọng lớn năng lượng tái tạo, bao gồm: mô hình hóa hệ thống điện, dự báo vận hành, tiêu chuẩn kỹ thuật, tích hợp điện gió, dữ liệu công nghệ, quy hoạch truyền tải.
Đây cũng là phần khó nhất của quá trình chuyển dịch năng lượng, bởi xây dựng một nhà máy điện mới chỉ là bước đầu, còn vận hành toàn bộ hệ thống điện với hàng loạt nguồn năng lượng biến động mới là thách thức lớn hơn nhiều.
![]() |
| Tọa đàm Vai trò của số liệu công nghệ trong việc tăng cường quy hoạch hệ thống năng lượng bền vững. Ảnh: Ngọc Linh |
Nhiều năm trước, nhắc tới hạ tầng năng lượng, người ta thường nghĩ tới nhà máy điện, đường dây truyền tải hay kho LNG. Hiện nay, dữ liệu cũng đang trở thành một “hạ tầng mềm” quyết định chất lượng quy hoạch và tốc độ chuyển dịch của hệ thống năng lượng.
Bởi nếu thiếu dữ liệu chuẩn hóa, việc lập quy hoạch, đánh giá công nghệ hay tính toán chi phí dài hạn sẽ dễ rơi vào tình trạng mỗi nơi sử dụng một cách tính khác nhau. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư mà còn tác động trực tiếp tới tốc độ chuyển dịch năng lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.