![]() |
| Diễn đàn “Năng lượng hydrogen và tương lai công nghiệp không phát thải” diễn ra ngày 29/7 tại Hà Nội. Ảnh: VCEA |
Năm 2024, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 165/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược Hydrogen). Lần đầu tiên, Việt Nam có một chiến lược riêng cho lĩnh vực này, tạo định hướng cho quá trình hình thành và phát triển ngành công nghiệp mới trong dài hạn.
Sau hai năm triển khai Chiến lược Hydrogen, quá trình xây dựng ngành công nghiệp này tại Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên. Đây cũng là nội dung được các cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp cùng trao đổi tại Diễn đàn "Năng lượng Hydrogen và Tương lai công nghiệp không phát thải", diễn ra ngày 29/7 tại Hà Nội.
Phát biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Ngọc Hiếu, đại diện Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương), cho biết Chiến lược Hydrogen không chỉ hướng tới mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo nền tảng phát triển thị trường năng lượng mới, thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị hydrogen và từng bước đưaViệt Nam trở thành trung tâm công nghiệp năng lượng sạch của khu vực.
Theo đại diện Bộ Công Thương, sau hai năm triển khai chiến lược, nhiều nội dung đã được lồng ghép vào các quy hoạch và văn bản pháp luật. Hydrogen đã được tích hợp trong Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, Luật Điện lực năm 2024 và Luật Hóa chất năm 2025.
Đồng thời, các cơ quan quản lý cũng đang xây dựng cơ chế hỗ trợ, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn và thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường hydrogen.
![]() |
| PGS. TS. Phạm Hoàng Lương, Giảng viên cao cấp Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội năng lượng sạch Việt Nam. Ảnh: VCED |
Theo PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, Giảng viên cao cấp Đại học Bách Khoa Hà Nội, Giám đốc Chương trình Đào tạo Kỹ thuật Năng lượng, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển hydrogen nhờ tiềm năng năng lượng tái tạo, nhu cầu sử dụng trong công nghiệp và vị trí địa lý thuận lợi cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, để hình thành một ngành công nghiệp hydrogen, cần phát triển đồng bộ toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển đến phân phối và ứng dụng.
Một lợi thế khác là hydrogen không phải là một loại nhiên liệu hoàn toàn mới đối với Việt Nam. Hai nhà máy lọc dầu Dung Quất và Nghi Sơn hiện tiêu thụ khoảng 178.000 tấn hydrogen mỗi năm, chủ yếu phục vụ các quá trình hydrocracking và hydrotreating để sản xuất nhiên liệu đạt tiêu chuẩn môi trường. Nguồn hydrogen này hiện chủ yếu được sản xuất từ khí tự nhiên, tức hydrogen xám.
Theo PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, điều đó đồng nghĩa quá trình chuyển đổi sang hydrogen carbon thấp không bắt đầu từ việc tạo ra một thị trường hoàn toàn mới, mà trước hết là từng bước thay thế nguồn hydrogen đang được sử dụng trong các ngành công nghiệp hiện hữu.
Đây cũng là cơ sở để nhiều doanh nghiệp lựa chọn phát triển các dự án gắn với nhu cầu sử dụng thực tế. Tại Khu kinh tế Nghi Sơn, dự án thu hồi hydrogen từ dòng khí của Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn để sản xuất hydrogen peroxide (H2O2) đang được nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm phát thải. Thay vì sản xuất hydrogen mới từ đầu, dự án tận dụng nguồn hydrogen sẵn có trong quá trình lọc hóa dầu để tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Ở quy mô lớn hơn, nhiều dự án hydrogen và ammonia xanh đang được xúc tiến tại Bình Thuận, Ninh Thuận và khu vực Cái Mép - Thị Vải. Bên cạnh mục tiêu xuất khẩu, các dự án này cũng hướng tới cung cấp nhiên liệu sạch cho công nghiệp, hàng hải và giao thông vận tải, qua đó từng bước mở rộng không gian ứng dụng của hydrogen trong nước.
Dù những mắt xích đầu tiên của chuỗi giá trị hydrogen đã dần xuất hiện, khoảng cách từ các dự án đơn lẻ đến một ngành công nghiệp hoàn chỉnh vẫn còn không nhỏ.
Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, Chuyên viên cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam, một trong những thách thức lớn hiện nay là hình thành thị trường cho hydrogen. "Sản xuất ra mà không có người tiêu thụ thì cũng không thể phát triển được," ông nói.
TS. Nguyễn Hữu Lương cho rằng, phát triển hydrogen không thể chỉ tập trung vào các dự án sản xuất. Chuỗi giá trị chỉ có thể vận hành khi được phát triển đồng bộ từ nguồn cung, hạ tầng lưu trữ - vận chuyển, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế chứng nhận đến các lĩnh vực ứng dụng đủ lớn để tạo ra nhu cầu ổn định.
![]() |
| TS. Nguyễn Hữu Lương, Chuyên viên cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam. Ảnh: H. Hương |
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, thị trường hydrogen không hình thành một cách tự nhiên mà thường được dẫn dắt bằng chính sách. Nhiều nước đã ưu tiên hỗ trợ các lĩnh vực khó giảm phát thải như sản xuất thép, hóa chất, xi măng, vận tải hạng nặng và hàng hải để tạo nhu cầu ban đầu cho hydrogen. Đây cũng là những lĩnh vực được đánh giá có nhiều tiềm năng ứng dụng tại Việt Nam.
Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, để thị trường thực sự hình thành, Việt Nam vẫn cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, cơ chế chứng nhận hydrogen carbon thấp, chính sách khuyến khích sử dụng trong các lĩnh vực ưu tiên và thu hút đầu tư vào hạ tầng. Khi những mắt xích này được kết nối, các dự án riêng lẻ mới có thể phát triển thành một ngành công nghiệp hydrogen hoàn chỉnh.
Nếu hạ tầng và thị trường quyết định khả năng vận hành của chuỗi giá trị, thì năng lực công nghệ sẽ quyết định doanh nghiệp Việt có thể tham gia chuỗi giá trị ấy ở vị trí nào.
Không phải mọi mắt xích trong chuỗi giá trị hydrogen đều có thể được nội địa hóa ngay từ đầu. Với những thiết bị công nghệ cao như cụm pin nhiên liệu hay hệ thống điện phân nước, nhiều doanh nghiệp Việt lựa chọn bắt đầu từ khâu tích hợp, lắp ráp và tối ưu vận hành, trước khi tiến tới làm chủ sâu hơn về công nghệ.
INDEFOL là một trong những doanh nghiệp theo đuổi hướng đi này. Trao đổi với Mekong ASEAN, ông Manuel Baumgartner, Giám đốc Hydrogen xanh của INDEFOL, cho biết doanh nghiệp hiện vẫn nhập khẩu cụm pin nhiên liệu từ một nhà sản xuất thiết bị gốc tại Stuttgart, Đức, có lịch sử 147 năm.
![]() |
| Kỹ sư kiểm tra hệ thống thiết bị điện phân kiềm Alkaline do INDEFOL tích hợp và phát triển tại Việt Nam. Ảnh: Indefol |
Tuy nhiên, toàn bộ quá trình lắp ráp cụm pin nhiên liệu, tích hợp hệ thống thiết bị phụ trợ, phát triển phần mềm điều khiển và hoàn thiện hệ thống đều được thực hiện tại Việt Nam.
Theo ông Manuel Baumgartner, giá trị trong chuỗi hydrogen không chỉ nằm ở từng linh kiện, mà còn ở năng lực thiết kế, tích hợp và vận hành đồng bộ hệ thống theo từng nhu cầu sử dụng. Đây cũng là năng lực mà INDEFOL đang từng bước xây dựng.
Hiện một số cảm biến và van chuyên dụng vẫn phải nhập khẩu, trong khi thép không gỉ và nhiều chi tiết cơ khí đã được cung ứng trong nước. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp nâng dần tỷ lệ nội địa hóa, đồng thời tích lũy kinh nghiệm để tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao.
INDEFOL cũng đang phát triển dây chuyền sản xuất hệ thống điện phân kiềm công suất 1 MW tại Việt Nam, với mục tiêu đạt năng lực chế tạo 144 hệ thống mỗi năm. Các thiết bị có thể tích hợp với điện mặt trời, điện gió và hệ thống lưu trữ năng lượng để sản xuất hydrogen xanh phục vụ công nghiệp và giao thông.