![]() |
| Rà soát, đánh giá các phương án, điều kiện cần thiết để đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 vào vận hành, khai thác trước ngày 31 tháng 12 năm 2026. Ảnh: VGP |
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Công văn số 11272 ngày 5/11 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc đẩy nhanh tiến độ triển khai Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn một.
Rà soát phương án đưa sân bay vào khai thác trước ngày 31/12
Đối với các nhiệm vụ trọng tâm, Phó Thủ tướng giao Bộ Xây dựng chỉ đạo Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) xây dựng phương án tổ chức khai thác, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn, tính khả thi và hiệu quả.
Bộ Xây dựng đồng thời chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, ACV và các cơ quan liên quan rà soát, đánh giá các phương án và điều kiện cần thiết để đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn một vào vận hành, khai thác trước ngày 31/12/2026 theo thẩm quyền và quy định pháp luật. Những vấn đề vượt thẩm quyền phải được kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Về công tác thanh toán, Bộ Tài chính tiếp tục chỉ đạo Tổ công tác tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của dự án phối hợp với Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan hướng dẫn, hỗ trợ ACV xử lý những tồn tại theo chỉ đạo tại Công văn số 10504/VPCP-CN ngày 14/10/2026.
Đối với nguồn cung ứng nhiên liệu và vật liệu xây dựng, UBND TP Đồng Nai và TP HCM được giao tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng rà soát khả năng cung ứng trên địa bàn để ưu tiên cung cấp cho dự án theo đề xuất cụ thể của ACV.
Hai địa phương cũng có trách nhiệm đôn đốc hoàn thành các dự án thành phần, công trình giao thông kết nối, hạ tầng kỹ thuật liên quan và những điều kiện phục vụ hoạt động của sân bay theo nhiệm vụ được giao. Các khó khăn, vướng mắc phát sinh phải được chủ động giải quyết theo thẩm quyền.
Xử lý vướng mắc tại từng gói thầu, bảo đảm tiến độ cam kết
Đối với ACV, Phó Thủ tướng yêu cầu thường xuyên rà soát những khó khăn về nguồn cung nhiên liệu, vật liệu xây dựng, đặc biệt là đá xây dựng và nhựa đường, cùng các vướng mắc trong công tác thanh toán, quyết toán dự án. Trường hợp những vấn đề này chưa được giải quyết, ACV phải báo cáo các tổ công tác để tiếp tục tháo gỡ.
ACV cần khẩn trương có giải pháp xử lý các tồn tại về thanh toán khối lượng thi công cho nhà thầu, cũng như những vướng mắc liên quan đến việc điều chỉnh vật tư, thiết bị so với thiết kế đã được phê duyệt.
Về tiến độ thi công, doanh nghiệp được giao rà soát kỹ khối lượng công việc còn lại tại các gói thầu, nhất là những gói có nguy cơ không hoàn thành đúng kế hoạch. Trong đó, cần xác định cụ thể thời điểm hoàn thành từng hạng mục, bao gồm công tác xây dựng, lắp đặt thiết bị và hoàn thiện công trình.
Từ khối lượng công việc còn lại, ACV phải xác định nhu cầu nhân công, máy móc, thiết bị, nhiên liệu và vật liệu xây dựng để bảo đảm tiến độ. Đồng thời, doanh nghiệp cần đánh giá các khó khăn, vướng mắc và xây dựng giải pháp xử lý cụ thể đối với từng nhà thầu, từng gói thầu theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng.
ACV có trách nhiệm báo cáo định kỳ hằng tuần tới Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính về tình hình thực hiện các nhiệm vụ được giao, kết quả so với tiến độ, những khó khăn phát sinh và kiến nghị xử lý các vấn đề vượt thẩm quyền.
Cùng với việc rà soát tiến độ, ACV phải yêu cầu các nhà thầu thi công huy động đầy đủ nhân lực, máy móc, thiết bị, nhiên liệu và vật liệu để đáp ứng tiến độ đã cam kết. Nếu nhà thầu không đáp ứng yêu cầu, ACV phải phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan và áp dụng biện pháp xử lý theo quy định của hợp đồng nhằm bảo đảm tiến độ dự án.
Đối với công tác chuẩn bị khai thác, ACV được giao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Bộ Xây dựng để triển khai các thủ tục nghiệm thu hoàn thành hạng mục, công trình; kiểm tra, đánh giá điều kiện khai thác và thực hiện các thủ tục cấp phép, chấp thuận chuyên ngành hàng không theo quy định pháp luật.
Từng công việc phải xác định rõ thời điểm bắt đầu, thời hạn hoàn thành, hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện và trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị. Việc này nhằm bảo đảm các thủ tục chuyên ngành hàng không được hoàn thành đúng tiến độ, không ảnh hưởng đến thời điểm đưa công trình vào khai thác.
Riêng gói thầu số 5.10, ACV phải khẩn trương hoàn thành việc lập và phê duyệt các kịch bản vận hành thử nghiệm đơn động, liên động đối với hệ thống cơ điện, phòng cháy chữa cháy, thiết bị nhà ga và hệ thống quản lý sân bay. Các kịch bản phải phù hợp với yêu cầu thiết kế và được triển khai thử nghiệm sau khi hoàn thành công tác thi công, lắp đặt.
Doanh nghiệp cũng phải đánh giá cụ thể khả năng khai thác, kết quả Chương trình ORAT, kết quả thử nghiệm lại và những rủi ro còn tồn tại nếu có.
Trong giai đoạn dự án vừa thi công, vừa khai thác, ACV được yêu cầu phối hợp với UBND thành phố Đồng Nai, các chủ đầu tư và đơn vị liên quan nghiên cứu phương án bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn, đồng thời bố trí điều kiện hậu cần, ăn ở cho người lao động trong khu vực dự án và hành khách có nhu cầu.
Đối với các công trình phụ trợ phục vụ khai thác hàng không, Phó Thủ tướng yêu cầu Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines) khẩn trương hoàn thành thủ tục chuẩn bị đầu tư xây dựng các công trình được giao, gồm hangar số 2, nhà ga hàng hóa số 2, nhà ga hàng hóa chuyển phát nhanh và 4 kho hàng từ số 5 đến số 8.
Trong đó, tiến độ triển khai nhà ga hàng hóa số 2 và nhà ga hàng hóa chuyển phát nhanh cần được ưu tiên để đáp ứng nhu cầu của các hãng hàng không, doanh nghiệp logistics trong nước và quốc tế.