![]() |
| Ảnh minh hoạ: Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. |
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, được ban hành ngày 7/1 xác định, mục tiêu trọng tâm là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phát triển văn hóa, con người làm nền tảng, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững đất nước.
Về các chỉ tiêu phát triển cụ thể, Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, bảo đảm 100% địa phương và lực lượng vũ trang có cơ sở văn hóa đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng của người dân và chiến sĩ; trong đó 90% thiết chế cơ sở phải hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
Công tác số hóa di sản được đẩy mạnh với mục tiêu hoàn thành 100% các di sản cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt ngay trong năm 2026.
Nghị quyết chú trọng nhiệm vụ nuôi dưỡng tâm hồn thế hệ trẻ thông qua việc bảo đảm 100% học sinh, sinh viên được tiếp cận thường xuyên các hoạt động nghệ thuật và giáo dục di sản.
Về nguồn lực tài chính, Nhà nước cam kết bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách hằng năm cho văn hóa và ban hành cơ chế tài chính ưu tiên cho ba lĩnh vực đột phá: đào tạo nhân tài; ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số; và đặt hàng các tác phẩm nghệ thuật có giá trị cao. Đi kèm với đó là chủ trương xã hội hóa đúng hướng, kiên quyết đấu tranh với khuynh hướng "thương mại hóa" trục lợi.
Trong lĩnh vực kinh tế văn hóa, mục tiêu đặt ra là các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia trong các lĩnh vực tiềm năng như điện ảnh, thời trang, du lịch văn hóa.
Đồng thời, Việt Nam phấn đấu xây dựng thành công 5 liên hoan nghệ thuật tầm quốc tế, thêm 5 di sản được UNESCO công nhận và thành lập từ 1 - 3 trung tâm văn hóa Việt Nam tại nước ngoài.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa với con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của sự phát triển. Văn hóa sẽ thẩm thấu sâu sắc vào mọi lĩnh vực, khẳng định vị thế của một quốc gia phát triển có thu nhập cao.
Ở giai đoạn này, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP.
Việt Nam đặt mục tiêu sở hữu 10 liên hoan nghệ thuật tầm cỡ quốc tế, có thêm từ 8-10 di sản được UNESCO ghi danh và trở thành điểm đến văn hóa hấp dẫn toàn cầu.
Đặc biệt, quốc gia phấn đấu vươn lên vị trí Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index), khẳng định giá trị và bản sắc Việt Nam trên bản đồ văn minh nhân loại.
Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và quyết sách đột phá về Ngày Văn hóa Việt Nam
Để thực hiện được các mục tiêu trên, nghị quyết đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp như:
Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ tư duy và thể chế quản lý.
Nghị quyết yêu cầu nâng cao nhận thức của toàn hệ thống chính trị, đặt phát triển văn hóa ngang tầm với kinh tế và chính trị. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, phát huy vai trò nòng cốt của báo chí, xuất bản, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nhân và các lực lượng xã hội trong sáng tạo, lan toả giá trị văn hoá Việt Nam; đồng thời chủ động quảng bá ra thế giới và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại..
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo, tạo đột phá chiến lược khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hoá; xây dựng, sửa đổi đồng bộ hệ thống pháp luật về văn hoá, công nghiệp văn hoá, bản quyền, nghệ thuật. Ban hành bộ chỉ số văn hoá quốc gia; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá.
Có chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công tư trong lĩnh vực văn hoá, triển khai mô hình lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao.
Xây dựng Quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình công tư; có chính sách đãi ngộ xứng đáng với nghệ nhân (dân gian), nghệ sĩ; có cơ chế hiệu quả để đưa các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hoá của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị đang ở nước ngoài về nước.
Thứ ba, chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, lấy việc hình thành nhân cách đức - trí - thể - mỹ làm trọng tâm. Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; xây dựng "thế trận văn hóa" gắn với an ninh quốc gia để đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, thông tin xấu độc; đồng thời đảm bảo quyền thụ hưởng văn hóa bình đẳng thông qua Nền tảng văn hóa số toàn dân và chọn ngày 24/11 là "Ngày Văn hóa Việt Nam".
Thứ tư, đổi mới phương thức quản lý văn hoá theo hướng kiến tạo, phục vụ, chuyển từ quản lý sang quản trị hiện đại; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý, sản xuất, phân phối và thụ hưởng văn hoá; xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hoá quốc gia, số hoá di sản và tác phẩm giá trị; phát triển thiết chế văn hoá số, tăng cường truyền thông chính sách và bảo vệ chủ quyền, an ninh văn hoá trên môi trường số.
Thứ năm, xây dựng hệ sinh thái văn hoá mang bản sắc Việt Nam, trong đó doanh nghiệp là động lực đổi mới sáng tạo, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; hình thành các không gian sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hoá – nội dung số; lấy di sản và tài nguyên văn hoá số làm nền tảng cho bảo tồn và phát triển bền vững; trọng dụng, tôn vinh và giải phóng sức sáng tạo của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhân tài trẻ.
Thứ sáu, thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hoá và thị trường văn hoá có trọng tâm, trọng điểm; xây dựng hạ tầng, cụm và tổ hợp văn hoá - sáng tạo, sàn giao dịch sản phẩm văn hoá; định vị sản phẩm văn hoá mang thương hiệu quốc gia; gắn phát triển công nghiệp văn hoá với du lịch văn hoá, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và thương hiệu điểm đến Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ bảy, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển đồng bộ hạ tầng văn hoá và nguồn nhân lực; tăng đầu tư công có trọng điểm, thu hút đầu tư xã hội; xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực văn hoá chất lượng cao; đổi mới giáo dục nghệ thuật, đào tạo gắn với công nghệ và sáng tạo; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách văn hoá trong kỷ nguyên mới.
Thứ tám, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá, coi văn hoá là trụ cột của đối ngoại và sức mạnh mềm quốc gia; mở rộng hợp tác, thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế; phát huy vai trò cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đẩy mạnh đăng cai, tham gia các sự kiện văn hoá quốc tế; triển khai chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới bằng các chiến dịch đa nền tảng, đa ngôn ngữ, qua đó lan toả giá trị văn hoá Việt Nam, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
Lộ trình và tổ chức thực hiện
Để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, Bộ Chính trị yêu cầu thiết lập hệ thống thực thi và giám sát đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Trọng tâm là việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam do Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng ban để chỉ đạo toàn diện và hiệu quả các nội dung của Nghị quyết.
Song song đó, các cơ quan Đảng, Quốc hội và Chính phủ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để thể chế hóa đầy đủ các chủ trương thành văn bản pháp luật. Đặc biệt, Đảng ủy Chính phủ được giao nhiệm vụ chuẩn bị để Quốc hội khóa XVI ban hành Nghị quyết riêng về phát triển văn hóa với các cơ chế ưu đãi cụ thể.
Công tác kiểm tra, giám sát sẽ được thực hiện định kỳ thông qua bộ chỉ số quản lý kết quả gắn với từng mục tiêu và lộ trình đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Các tỉnh ủy, thành ủy và Mặt trận Tổ quốc có trách nhiệm vận động nhân dân, đảm bảo nguồn lực và phát huy vai trò phản biện xã hội, quyết tâm đưa văn hóa trở thành sức mạnh thực chất trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.