Tiếp tục chương trình kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sáng ngày 22/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về nội dung cơ chế, chính sách đối với dự án xây dựng khu đô thị lấn biển để tích hợp vào dự án Luật Phát triển đô thị.
Cho ý kiến tại hội trường, đa số đại biểu Quốc hội bày tỏ tán thành việc luật hóa cơ chế, chính sách đối với dự án khu đô thị lấn biển.
![]() |
| Đại biểu Phạm Văn Hoà phát biểu tại hội trường. Ảnh: Media Quốc hội |
Theo đại biểu Phạm Văn Hoà (Đoàn Đồng Tháp), thời gian qua Việt Nam đã có chủ trương phát triển các khu vực lấn biển và một số tỉnh, thành phố đã triển khai trên thực tế. Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu cơ chế, chính sách đặc thù và hành lang pháp lý đầy đủ để hoạt động này phát triển bài bản, hiệu quả. Trong khi đó, nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á đã thực hiện lấn biển từ nhiều năm trước và đạt hiệu quả cao.
Trong bối cảnh quỹ đất tại các đô thị ngày càng hạn hẹp, nhu cầu mở rộng không gian đô thị, phát triển du lịch, sinh thái và các hoạt động kinh tế ngày càng tăng, đại biểu Phạm Văn Hoà cho rằng khai thác không gian biển để tạo thêm quỹ đất là bước đi phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, việc hoàn thiện các quy định về khu đô thị biển cần được đặt trong tổng thể phát triển đô thị biển của cả nước, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và có thể áp dụng đối với các địa phương có điều kiện tương tự.
Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) cho biết, Việt Nam là quốc gia biển với hơn 3.000 km bờ biển. Chủ trương hướng biển, khai thác tiềm năng, lợi thế biển để tạo nguồn lực phát triển đất nước và các địa phương thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước.
Theo đại biểu, việc phát triển các khu đô thị lấn biển không đơn thuần nhằm tạo thêm quỹ đất cho phát triển đô thị mà còn góp phần mở rộng không gian phát triển quốc gia ra biển, khai thác hiệu quả hơn nguồn lực biển, hình thành các cực tăng trưởng mới, đồng thời huy động nguồn lực lớn từ khu vực ngoài Nhà nước.
Khi đã luật hóa nội dung này, đại biểu Mai đề xuất luật cần được thiết kế theo hướng hình thành một khuôn khổ pháp lý chung, ổn định, có khả năng áp dụng lâu dài, thay vì chỉ nhằm giải quyết một dự án hoặc một địa phương cụ thể. “Địa phương nào có điều kiện, có dự án phù hợp và đáp ứng đầy đủ yêu cầu của luật thì phải có cơ sở để tiếp cận và tổ chức thực hiện,” ông Mai nói.
Quy mô dự án càng lớn thì yêu cầu về năng lực nhà đầu tư càng phải tương xứng
Liên quan đến điều kiện đối với nhà đầu tư chiến lược, đại biểu Dương Khắc Mai tán thành việc dự thảo đặt ra các yêu cầu bổ sung đối với nhà đầu tư thực hiện dự án đô thị lấn biển, bởi đây là loại dự án có quy mô lớn, tính chất đặc thù và thời gian triển khai dài.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ quy định về tỷ lệ vốn chủ sở hữu, trong đó dự thảo quy định mức tối thiểu 15% đối với một số dự án và giảm xuống 10% đối với dự án có quy mô trên 200.000 tỷ đồng.
Theo ông, với các dự án đặc biệt lớn, việc cho phép huy động nguồn vốn ngoài vốn chủ sở hữu là cần thiết. Song quy mô dự án càng lớn thì yêu cầu về năng lực tài chính, khả năng huy động vốn và trách nhiệm của nhà đầu tư càng phải tương xứng. Do đó, nếu tiếp tục duy trì tỷ lệ vốn chủ sở hữu 10% đối với dự án trên 200.000 tỷ đồng, đại biểu đề nghị không chỉ đánh giá nhà đầu tư dựa trên tỷ lệ vốn chủ sở hữu mà phải bổ sung các tiêu chí về năng lực tài chính thực tế, kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự, năng lực quản trị và khả năng bảo đảm nguồn vốn theo tiến độ trong suốt vòng đời dự án.
“Mục tiêu là lựa chọn được nhà đầu tư không chỉ đủ điều kiện tại thời điểm chấp thuận mà còn có khả năng thực hiện dự án đến cùng,” đại biểu Dương Khắc Mai nêu ý kiến.
![]() |
| Đại biểu Vũ Văn Tiến tham gia thảo luận. Ảnh: Media Quốc hội |
Cũng quan tâm tới điều kiện đối với nhà đầu tư chiến lược, đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn Hải Phòng) cho rằng, nếu chỉ sử dụng các ngưỡng vốn đầu tư tuyệt đối, cố định trong luật thì theo thời gian, các mức này có thể không còn phù hợp do tác động của lạm phát và sự thay đổi của mặt bằng giá. Do đó, ông đề nghị nghiên cứu bổ sung các tiêu chí phản ánh trực tiếp hơn quy mô và mức độ tác động của dự án, trong đó có thể xem xét diện tích lấn biển kết hợp với yêu cầu về năng lực tài chính.
Theo đại biểu, có thể nghiên cứu các ngưỡng diện tích như 100 ha, 200 ha để phân loại dự án thay vì chỉ dựa trên tổng mức đầu tư. Đối với các dự án có ý nghĩa đặc biệt về chiến lược phát triển, quốc phòng, an ninh hoặc có phạm vi tác động liên vùng, đại biểu đề nghị có cơ chế xem xét riêng và quy định cụ thể trong luật.
“Tinh thần ở đây không phải là nới điều kiện cho nhà đầu tư mà là làm cho tiêu chí lựa chọn bền vững hơn theo thời gian và sát hơn với bản chất dự án. Một dự án lấn biển lớn không chỉ lớn vì số vốn bỏ ra mà còn vì diện tích can thiệp, mức độ thay đổi đường bờ và hệ quả lâu dài,” đại biểu nêu quan điểm.
Theo đại biểu Vũ Văn Tiến, lấn biển có thể tạo ra nguồn lực phát triển rất lớn nhưng chỉ thực sự có giá trị khi quản trị tốt các rủi ro. Công nghệ có thể giúp dự báo và thi công an toàn hơn, nhưng không thể thay thế quy hoạch tốt và cơ chế giám sát nghiêm túc.
Quy định chặt chẽ việc chuyển nhượng dự án
![]() |
| Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình ý kiến đại biểu. Ảnh: Media Quốc hội |
Phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu cuối phiên thảo luận, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, điểm đặc thù đầu tiên của loại dự án lấn biến là hình thành một khu vực lấn biển chưa tồn tại trên thực tế để phát triển đô thị.
“Đây không chỉ đơn thuần là lấn biển để tạo quỹ đất mà hướng tới hình thành một khu đô thị mới trên biển, xanh, hiện đại, thông minh, mang tầm quốc gia, tạo ra một cực tăng trưởng mới, đủ sức hấp dẫn và thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực,” Bộ trưởng nhấn mạnh.
Đặc thù thứ hai, theo Bộ trưởng, là các dự án có quy mô rất lớn, thời gian thực hiện dài và nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ san lấp, xây dựng cũng rất lớn. Vì vậy, cơ chế áp dụng không thể hoàn toàn giống với các dự án đô thị thông thường.
Liên quan đến nhà đầu tư chiến lược, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết cơ quan soạn thảo đã tiếp thu ý kiến đại biểu theo hướng quy định các điều kiện, tiêu chí và giao Thủ tướng Chính phủ quyết định để bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Dự thảo cũng quy định chặt chẽ việc chuyển nhượng dự án. Nhà đầu tư được chuyển nhượng không quá 50% phần dự án đã có đầy đủ hạ tầng. Quy định này vừa nhằm gắn trách nhiệm của nhà đầu tư với dự án, vừa tạo điều kiện để huy động nguồn lực, bảo đảm dự án được triển khai thông suốt.
Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, các dự án được thiết kế cơ chế áp dụng có quy mô rất lớn, từ 100.000 tỷ đồng đến 200.000 tỷ đồng và trên 200.000 tỷ đồng, tương đương mức đầu tư tối thiểu khoảng 4 tỷ USD. “Việc huy động vốn cho những dự án như vậy rất khó khăn nên chúng ta phải có cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn các nhà đầu tư có tiềm lực, vừa có vốn, vừa có kinh nghiệm quản lý, đủ năng lực từ xây dựng đến tổ chức vận hành, quản lý dự án,” Bộ trưởng nói.
| Theo Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, dự thảo đã thiết kế các nguyên tắc áp dụng đối với khu đô thị lấn biển. Theo đó, dự án phải phù hợp với quy hoạch; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển; không cản trở hoạt động hàng hải. Việc quyết định dự án phải dựa trên đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, hải văn, hệ sinh thái, tác động đến khu vực ven biển và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Các khu đô thị lấn biển phải được phát triển theo hướng hiện đại, xanh, thông minh; kết nối đồng bộ hạ tầng với đất liền; bảo đảm quyền tiếp cận biển của người dân; triển khai theo từng giai đoạn và gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường của nhà đầu tư. Đồng thời, khu đô thị lấn biển không hình thành đơn vị hành chính mới và phải tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam cũng như Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. |