|
|
| Ảnh minh họa: Tùng Dương/Mekong ASEAN. |
Mục đích của Kế hoạch là tổ chức triển khai đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu tại Thông báo kết luận, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp.
Đồng thời, Kế hoạch hướng tới khẩn trương tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực, phát huy hiệu quả năng lực hiện có của ngành công nghiệp hàng hải; tập trung xử lý các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách, thị trường, khoa học và công nghệ, nguồn nhân lực, tài chính và tổ chức thực hiện, tạo nền tảng để phát triển công nghiệp hàng hải theo hướng hiện đại, đồng bộ, tự chủ và có năng lực cạnh tranh.
10 nhiệm vụ, giải pháp
Kế hoạch đặt ra 10 nhiệm vụ, giải pháp bao gồm: Tổ chức quán triệt, tuyên truyền và cụ thể hóa Thông báo kết luận.
Xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
Rà soát, đánh giá, phân loại năng lực công nghiệp hàng hải quốc gia.
Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm và huy động nguồn lực phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia.
Tổ chức lại thị trường, phát huy hiệu quả năng lực hiện có và phát triển thị trường công nghiệp hàng hải, cơ khí biển.
Phát triển hệ sinh thái công nghiệp hàng hải, cơ khí biển hiện đại, xanh, số và nâng cao năng lực tự chủ.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng.
Hình thành các trung tâm, cụm liên kết công nghiệp hàng hải, cơ khí biển trọng điểm.
Rà soát, phân loại toàn diện năng lực của ngành
Theo Kế hoạch, ngành công nghiệp hàng hải sẽ được rà soát toàn diện: năng lực thiết kế, đóng mới, sửa chữa, hoán cải phương tiện thủy; công nghiệp cơ khí biển và công nghiệp hỗ trợ; hệ thống cơ sở sản xuất, hạ tầng kỹ thuật; năng lực nghiên cứu, phát triển, đăng kiểm, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ; thị trường, tài chính và các yếu tố bảo đảm khác.
Từ kết quả rà soát, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thống nhất và cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp hàng hải, phục vụ quản lý Nhà nước, hoạch định chính sách và xây dựng Chương trình quốc gia phát triển công nghiệp hàng hải và cơ khí biển.
Kết quả rà soát cũng là căn cứ để xác định năng lực nào cần giữ lại, nâng cấp, liên kết phát triển, chuyển đổi hoặc sắp xếp lại; nhận diện các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, tài sản, công nghệ, dữ liệu và nguồn nhân lực có ý nghĩa chiến lược. Mục tiêu là dùng nguồn lực hiệu quả hơn, tránh đầu tư dàn trải, trùng lặp và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
Hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng cho ngành đóng tàu
Kế hoạch cũng định hướng nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tài chính, tín dụng, bảo lãnh và bảo hiểm phù hợp với đặc thù của ngành đóng tàu: hợp đồng quy mô lớn, thời gian thực hiện dài, cần vốn đầu tư lớn và nhiều rủi ro.
Chính sách hỗ trợ phải công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng mục tiêu, phù hợp với pháp luật và các cam kết quốc tế của Việt Nam. Việc hỗ trợ gắn với năng lực của doanh nghiệp, hiệu quả dự án, khả năng hoàn trả vốn và mức độ đóng góp vào năng lực công nghiệp quốc gia.
Nguồn lực cho ngành được huy động từ ngân sách Nhà nước, vốn doanh nghiệp, tín dụng, thị trường vốn, hợp tác công tư và các nguồn hợp pháp khác. Ưu tiên dành cho các lĩnh vực then chốt, các dự án có tính lan tỏa, làm chủ được công nghệ, nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Các tổ chức tín dụng, tài chính, bảo hiểm được khuyến khích xây dựng sản phẩm tín dụng, bảo lãnh, bảo hiểm riêng cho ngành đóng tàu, bảo đảm tuân thủ pháp luật và an toàn hoạt động.
Hình thành các trung tâm, cụm liên kết trọng điểm
Theo Kế hoạch, một số trung tâm và cụm liên kết công nghiệp hàng hải, cơ khí biển trọng điểm sẽ được hình thành tại những nơi có lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực doanh nghiệp.
Các trung tâm, cụm liên kết phải có chuyên môn hóa, phân công hợp lý, gắn chặt với hệ thống cảng biển, cảng thủy nội địa, logistics, công nghiệp hỗ trợ và các ngành liên quan, tránh đầu tư dàn trải, phân tán, trùng lặp.
Kế hoạch cũng khuyến khích phát triển các trung tâm sửa chữa, hoán cải, tháo dỡ, tái chế phương tiện thủy theo mô hình kinh tế tuần hoàn; áp dụng công nghệ tiên tiến, dùng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động, an toàn và bảo vệ môi trường.
Các Bộ, ngành, địa phương phối hợp trong quy hoạch, đầu tư và quản lý các trung tâm, cụm liên kết; huy động nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội để phát triển đồng bộ hệ sinh thái công nghiệp hàng hải quốc gia.