Kiến nghị quản lý tài nguyên nước như một loại tài sản công

nước CHÍNH SÁCH
14:08 - 21/10/2022
Cần bổ sung các quy định để hoàn thiện cơ chế xem “nước là hàng hóa thiết yếu”.
Cần bổ sung các quy định để hoàn thiện cơ chế xem “nước là hàng hóa thiết yếu”.
0:00 / 0:00
0:00
Tham gia góp ý Luật Tài nguyên nước (sửa đổi), PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh cho rằng, phải xác định lại quan niệm về tài nguyên nước như một tài sản công, từ đó quy định lại chức năng của các cơ quan quản lý Nhà nước về ngành này.

Nhìn nhận nước là hàng hóa thiết yếu

Tại tọa đàm góp ý dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) do Hội Luật gia Việt Nam tổ chức, ngày 21/10, PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước (BộTN&MT) cho rằng, vấn đề quản lý Nhà nước về tài nguyên nước hiện nay còn chồng chéo, trùng lặp, có khi bỏ trống, lực lượng thực thi còn yếu, phân tán.

Đặc biệt còn thiếu cơ chế, chính sách và còn nhiều bất cập để thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông, thiếu nội dung quy định về tham gia quản lý các lưu vực sông quốc tế, nguồn nước liên quốc gia.

Do đó, ông Huỳnh đề xuất sửa đổi, bổ sung điều 5 Dự thảo Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) để bổ sung và cụ thể hóa để thực hiện một số chính sách lớn liên quan đến tài nguyên nước.

Kiến nghị quản lý tài nguyên nước như một loại tài sản công ảnh 1

"Cần nhìn nhận tài nguyên nước là một loại tài sản công. Theo Hiến pháp 2013 quy định tại điều 53, tài nguyên nước là tài nguyên quan trọng thiết yếu, là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý. Tài nguyên nước cần phải được sử dụng, quản lý một cách bền vững, chia sẻ công bằng và cùng có lợi, phù hợp với luật pháp Việt Nam và cam kết quốc tế”.

PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước

Tuy nhiên tại dự thảo Luật hiện tại hoàn toàn thiếu các quy định về nội dung này. Việc xác định nội dung để bổ sung các quy định là cần thiết. Do đó, vị chuyên gia đề xuất bổ sung mới vào Chương 1 “Quy định chung” các quy định về sở hữu, chuyển nhượng… tài sản là sản phẩm từ nước, từ tài nguyên nước, quyền tiếp cận nguồn nước như quyền cơ bản của quyền con người.

“Phải xác định tài nguyên nước đặc biệt quan trọng trong xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành, lĩnh vực có khai thác và sử dụng nước. Việc khai thác, sử dụng nước phải theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản công và phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả, hài hòa các lợi ích và giá trị của nước, đáp ứng nhu cầu trước mắt, lâu dài”, ông Huỳnh đánh giá.

Từ việc nhìn nhận tài nguyên nước là một loại tài sản công, PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh nhấn mạnh, cần quan tâm đúng mức đến kinh tế, tài chính nước. Ông khuyến nghị, cần bổ sung các quy định để hoàn thiện cơ chế xem “nước là hàng hóa thiết yếu” cần được quản lý, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

Đồng thời khuyến khích, thu hút các nguồn lực xã hội, thành phần kinh tế đầu tư vào ngành nước nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng, chia sẻ lợi ích một cách công bằng và cùng có lợi, phù hợp với luật pháp và cam kết quốc tế.

Bất cập trong quản lý tài nguyên nước

Cũng tại tọa đàm, chỉ ra bất cập khác của ngành nước về nhiệm vụ, chức năng của cơ quan quản lý Nhà nước, TS. Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước và Công trình thuỷ lợi nhìn nhận, khái niệm đang sử dụng theo dự thảo 2 Luật Tài nguyên nước trong nhiều trường hợp không chính xác.

Kiến nghị quản lý tài nguyên nước như một loại tài sản công ảnh 2

"Thực tế rất khó tách bạch nước như thế nào là tài nguyên? Là hàng hóa, là thủy lợi hay là thủy hại? Tuy đặt tên là Luật Tài nguyên nước nhưng thực chất có phạm vi điều chỉnh rộng hơn rất nhiều, gần như bao trùm các vấn đề về nước. Chính vì vênh lệch giữa tên Luật và nội dung Luật dẫn đến nội dung dự thảo 2 vừa thiếu lại vừa thừa và chứa đựng những chồng chéo, mâu thuẫn”.

TS. Nguyễn Đình Ninh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Tài nguyên nước và Công trình thuỷ lợi

Cũng chính vì nguyên nhân này, ông Ninh cho rằng, bên cạnh Luật Tài nguyên nước 2012 rất phức tạp còn có Luật Thủy lợi, Luật Đê điều, Luật Phòng chống thiên tai… dẫn đến giao thoa, trùng lắp trong thực hiện.

Hiện nay có 5 Bộ đang thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với ngành nước theo từng lĩnh vực. Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) quản lý về tài nguyên nước. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) quản lý về trữ nước, cấp nước (nông nghiệp, công nghiệp, nước sinh hoạt nông thôn); phòng, chống ngập, tiêu thoát nước nông thôn, khu công nghiệp; phòng, chống lũ lụt; phòng, chống suy thoái nguồn nước và phòng, chống xói mòn, sạt lở bờ sông bờ biển.

Ngoài ra, Bộ Xây dựng quản lý cấp thoát nước đô thị, khu công nghiệp, Bộ Công Thương quản lý trữ và cấp nước phát điện, Bộ Giao thông Vận tải quản lý luồng lạch, công trình giao thông thủy.

Đáng lưu ý, TS Ninh phân tích, rối ren, phức tạp nhất là tranh chấp giữa ngành Bộ TN&MT quản lý Nhà nước về tài nguyên nước còn Bộ NN&PTNT quản lý Nhà nước về nguồn nước trong các công trình thủy lợi. Nhưng xét về bản chất tài nguyên nước và nguồn nước là một, không thể tách bạch được.

“Như vậy, về mặt luật pháp, chúng ta đang cố gắng làm một việc trái với quy luật tự nhiên, trái với những đặc điểm rất đặc trưng của lĩnh vực nước. Mô hình tổ chức quản lý Nhà nước về ngành nước hiện nay cồng kềnh, phân tán, chồng chéo và hiệu quả rất thấp”, TS Ninh nhấn mạnh.

Theo TS Nguyễn Đình Ninh, Bộ TN&MT được giao chức năng rất lớn là quản lý tài nguyên nước nhưng lại không nắm công cụ quản lý. Công cụ quản lý lĩnh vực nước lại thuộc quyền quản lý của các bộ khác, mà chủ yếu là Bộ NN&PTNT.

“Vì thế Bộ TN&MT chẳng khác gì chiến sĩ trên mặt trận nhưng không có súng. Vai trò, vị thế trong quản lý lĩnh vực nước của ngành tài nguyên môi trường trên thực tế rất mờ nhạt”, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quản lý Tài nguyên nước ví von.

Từ đó, TS Ninh đề nghị, cần thiết phải soạn thảo Luật Nước với phạm vi điều chỉnh đầy đủ các hoạt động khai thác mặt lợi, phòng chống mặt hại của nước. Quản lý Nhà nước về ngành nước không thể phân tán, chồng chéo, kém hiệu quả như hiện nay. Với bộ đa ngành và một việc chỉ giao 1 cơ quan, phải đưa tất cả chức năng, nhân lực, vật lực của lĩnh vực nước về một đầu mối,

“Đưa toàn bộ chức năng và nhân lực trong lĩnh vực nước từ Bộ NN&PTNT về Bộ TN&MT. Đưa chức năng quản lý tài nguyên nước từ Bộ TN&MT trở lại Bộ NN&PTNT như đã từng có. Phương án này ít xáo trộn hơn vì chỉ chuyển Cục Quản lý tài nguyên nước trên trung ương, còn ở cơ sở mỗi tỉnh chỉ chuyển vài cán bộ làm lĩnh vực này”, TS Nguyễn Đình Ninh đưa ra góp ý.

Tin liên quan

Đọc tiếp