SSI dự báo lợi nhuận Hoà Phát, Hoa Sen, Nam Kim giảm mạnh

hoà phát Hoa Sen
08:32 - 06/07/2022
Thép cuộn cán nóng (HRC) - sản phẩm xuất khẩu của Hoà Phát. Ảnh: Tập đoàn Hoà Phát
Thép cuộn cán nóng (HRC) - sản phẩm xuất khẩu của Hoà Phát. Ảnh: Tập đoàn Hoà Phát
0:00 / 0:00
0:00
SSI cho rằng giá cổ phiếu thép đã phản ánh được khá rõ quá trình tạo đỉnh và điều chỉnh của giá thép. Với mức định giá hiện tại, rủi ro giảm giá không còn lớn nhưng đà tăng cũng có thể bị giới hạn trong giao dịch ngắn hạn.

Trong báo cáo cập nhật triển vọng ngành thép mới đây, bộ phận phân tích của Công ty Chứng khoán SSI cho biết, sau khi tăng 15% trong quý 1 do nhu cầu bị dồn nén, sản lượng tiêu thụ thép thành phẩm trong nước (bao gồm thép xây dựng, tôn mạ và thép ống) trong tháng 4 và tháng 5 đã giảm khoảng 32% so với cùng kỳ.

Nhu cầu yếu hơn đáng kể có thể là do sự kết hợp của ba yếu tố: Giá thép cao, cùng với sự gia tăng của các chi phí vật liệu xây dựng khác khiến hoạt động xây dựng bị đình trệ; lo ngại về việc giá thép tạo đỉnh khiến các nhà phân phối tạm dừng việc dự trữ hàng tồn kho; các chính sách quản lý siết chặt hơn dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản.

Xuất khẩu có dấu hiệu chững lại

Theo SSI, sản lượng xuất khẩu của thép thành phẩm đạt mức tăng trưởng đáng khích lệ là 13% trong giai đoạn 5 tháng đầu năm 2022. Tuy nhiên, kênh xuất khẩu vẫn có xu hướng chững lại trong những tháng gần đây, đặc biệt trong mảng tôn mạ, với sản lượng hàng tháng thấp hơn khoảng 30% so với mức đỉnh trong quý 4 năm 2021. Sự sụt giảm về sản lượng như vậy là do nhu cầu giảm ở các thị trường xuất khẩu chủ chốt (đặc biệt là Mỹ và EU), những thị trường mà trong điều kiện thuận lợi từng chiếm 60-70% sản lượng xuất khẩu tôn mạ của Việt Nam.

Các công ty tôn mạ như HSG (Tập đoàn Hoa Sen) và NKG (Thép Nam Kim) đã nhận được đơn đặt hàng xuất khẩu thực hiện cho đến cuối tháng 7 và tháng 8 với sản lượng khoảng 60 nghìn tấn/tháng. Nhưng việc các đơn hàng xuất khẩu trước từ 1 đến 2 tháng cho thấy xu hướng chậm lại so với giai đoạn trước khi các công ty ký được trước khoảng 3-4 tháng. Thêm vào đó, xuất khẩu trong nửa cuối năm cũng có thể bị ảnh hưởng tiêu cực từ các biện pháp bảo hộ mà EU áp đặt.

Theo đó, EU gần đây đã bổ sung Việt Nam vào nhóm “các nước khác” với hạn ngạch nhập khẩu dành cho nhóm này là 2,1 triệu tấn thép mạ kẽm nhúng nóng (HDG) từ ngày 1 tháng 7 năm 2021 đến ngày 30 tháng 6 năm 2022, và tăng 4%/năm trong 2 năm tới.

Theo EU, sản lượng xuất khẩu HDG của Việt Nam sang Châu Âu ước đạt 979.000 tấn vào năm 2021. Với điều chỉnh này, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU có thể sẽ giảm trong thời gian tới. Thực tế, đóng góp từ thị trường EU đối với xuất khẩu thép Việt Nam cũng đã giảm so với giai đoạn trước do giá thép EU giảm đáng kể trong những tháng gần đây.

Tại Việt Nam, giá thép xây dựng đã giảm khoảng 11% so với mức đỉnh vào tháng 3, trong khi giá thép HRC cũng giảm 25% so với mức đỉnh vào đầu tháng 4, theo diễn biến của giá thép thế giới.

Sau khi tăng vọt 56% khi xung đột Nga - Ukraine bắt đầu, hiện giá thép HRC tại EU đã điều chỉnh khoảng 35% về dưới mức trước khi căng thẳng xảy ra. Giá HRC ở Trung Quốc và Mỹ cũng giảm 15-20% trong 3 tháng qua do ít hoạt động xây dựng và sản xuất hơn, trong bối cảnh lạm phát trên toàn thế giới, và đặc biệt là do nhu cầu yếu ở Trung Quốc trước tình hình giãn cách xã hội, thời tiết bất lợi và thị trường bất động sản tăng trưởng chậm lại do lãi suất tăng.

Về nguồn cung, sản lượng thép toàn cầu nhìn chung đã giảm trong nửa đầu năm 2022, với tổng sản lượng sản xuất ước tính giảm 6,3% so với cùng kỳ trong 5 tháng đầu năm 2022. Tuy nhiên, tính theo tháng, sản lượng thép sản xuất tại Trung Quốc đã tăng dần trong 3 tháng qua, làm gia tăng lượng hàng tồn kho tại nhà máy và tạo thêm áp lực lên diễn biến giá thép trong khu vực.

Tỷ suất lợi nhuận bị kìm hãm trong ngắn hạn

Việc giảm tỷ suất lợi nhuận của các công ty thép trong ngắn hạn có thể được hỗ trợ bởi giá nguyên liệu đầu vào giảm: Giá than cốc đã giảm 36% so với mức đỉnh hồi tháng 3, trong khi giá quặng sắt cũng giảm 13% trong 3 tháng qua do sản lượng thép sản xuất giảm (đặc biệt là từ Trung Quốc). Bên cạnh đó, nguyên liệu đầu vào rẻ hơn có thể giúp giảm chi phí sản xuất của các công ty trong các quý tiếp theo.

Mặt khác, do tỷ suất lợi nhuận của các công ty Trung Quốc đã giảm xuống mức tối thiểu, nên giá thép trong thời gian tới sẽ khó có thể giảm với tốc độ mạnh như trong những tháng gần đây. Nhưng sự hồi phục của giá thép cũng tương đối hạn chế do nhu cầu yếu cho đến khi Trung Quốc mở cửa hoàn toàn nền kinh tế.

SSI nhận định, tỷ suất lợi nhuận của các công ty thép dự kiến sẽ không giảm xuống mức tỷ suất lợi nhuận trong giai đoạn 2018-2019, do các lý do sau:

Trong năm 2018-2019, việc lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong giai đoạn 2016-2017 đã thúc đẩy nhiều công ty tăng công suất từ 50% - 100%, đặc biệt trong lĩnh vực tôn mạ. Đồng thời, các doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng khác như HPG và POM cũng tham gia vào lĩnh vực kinh doanh tôn mạ, làm gia tăng sự cạnh tranh. Ngoài ra, nợ và hàng tồn kho của các doanh nghiệp thép đầu năm 2018 cũng rất cao, khiến họ phải cắt giảm biên lợi nhuận trong năm 2018-2019 để đẩy mạnh cắt giảm hàng tồn kho và giảm nợ vay.

Trong khi đó, không có sự gia tăng công suất đáng kể trong lĩnh vực thép mạ và thép xây dựng trong giai đoạn 2020-2021. Mặc dù một số doanh nghiệp chủ chốt trong lĩnh vực này như HPG, NKG và TDA đã có kế hoạch mở rộng cho những năm tới nhưng sự suy giảm của giá thép và triển vọng xuất khẩu, cũng như mức lạm phát cao có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc triển khai dự án này.

Ngoài ra, mức nợ của các công ty tôn mạ cũng đã giảm xuống mức an toàn hơn nhiều so với giai đoạn trước. Do đó, SSI cho rằng mặc dù tỷ suất lợi nhuận của các công ty sản xuất tôn mạ có thể bị kìm hãm trong ngắn hạn nhưng vẫn sẽ cao hơn mức đáy ghi nhận được trong năm 2018- 2019.

Trước bối cảnh như trên, SSI hạ dự báo tăng trưởng lợi nhuận của 3 công ty thép đầu ngành:

Tập đoàn Hoà Phát (mã HPG): Giảm dự báo doanh thu và lợi nhuận ròng năm 2022 từ 176.000 tỷ đồng và 31.100 tỷ đồng xuống 160.000 tỷ đồng (tăng 6,9% so với cùng kỳ) và 26.500 tỷ đồng (giảm 23,1% so với cùng kỳ), chủ yếu do giả định giá thép giảm.

Sản lượng tiêu thụ của thép xây dựng, HRC, thép ống và phôi thép ước tính lần lượt là 4,7 triệu tấn (tăng 19% so với cùng kỳ), 2,8 triệu tấn (tăng 9% so với cùng kỳ), 690 nghìn tấn (tăng 5% so với cùng kỳ) và 700 nghìn tấn (giảm 46,6% so với cùng kỳ).

Ở mức giá hiện tại, cổ phiếu HPG đang giao dịch ở mức P/E 2022 là 5,2 lần – mức thấp nhất trong lịch sử. SSI giảm P/E và EV/EBITDA mục tiêu 1 năm lần lượt từ 7,5x và 5,5x xuống 6x và 4,5x, do định giá các công ty cùng ngành trong khu vực giảm, trong bối cảnh lạm phát gia tăng và triển vọng lợi nhuận suy yếu.

SSI duy trì đánh giá khả quan đối với cổ phiếu HPG nhưng giảm giá mục tiêu xuống 27.000 đồng/cổ phiếu. Mặc dù giá cổ phiếu giảm đã phản ánh phần nào triển vọng lợi nhuận nhưng rủi ro ngắn hạn vẫn còn, do đà đi xuống của giá thép.

Tập đoàn Hoa Sen (mã HSG): SSI dự báo lợi nhuận sau thuế năm 2022 là 1.400 tỷ đồng, giảm 67% so với cùng kỳ, mặc dù doanh thu vẫn ổn định do giá bán bình quân đã tăng trước đó. Sản lượng tiêu thụ sẽ giảm 12,7% xuống 1,96 triệu tấn, chủ yếu do sản lượng xuất khẩu giảm 26% so với mức đỉnh vào năm 2021, trong khi doanh số bán hàng trong nước có thể phục hồi 6% so với cùng kỳ.

Với mức giá hiện tại, HSG đang giao dịch ở với PE dự phóng 2022 và 2023 lần lượt là 6,3x và 6,0x. SSI duy trì khuyến nghị trung lập đối với HSG, với giá mục tiêu 1 năm là 17.000 đồng/cổ phiếu dựa trên P/E mục tiêu là 6x.

Thép Nam Kim (mã NKG): SSI dự báo lợi nhuận sau thuế năm 2022 sẽ giảm 39% so với cùng kỳ, xuống còn 1.350 tỷ đồng. Sản lượng tiêu thụ dự kiến sẽ giảm 4% so với cùng kỳ, xuống 1,04 triệu tấn, trong đó sản lượng xuất khẩu có thể giảm 9%, còn sản lượng tiêu thụ trong nước tăng 5% so với cùng kỳ.

Ở mức giá hiện tại, NKG đang giao dịch ở mức P/E 2022 và 2023 lần lượt là 3,7 lần và 4,9 lần. SSI thay đổi khuyến nghị cho cổ phiếu NKG từ khả quan thành trung lập, với giá mục tiêu 1 năm là 21.000 đồng/cổ phiếu, dựa trên P/E mục tiêu là 5 lần.

Tin liên quan

Đọc tiếp

Cổ phiếu KOS bất ngờ giảm mạnh

Cổ phiếu KOS bất ngờ giảm mạnh

Tạm nghỉ phiên sáng 14/6, cổ phiếu KOS của CTCP Kosy giảm 6,31% về còn 36.350 đồng/CP, là cổ phiếu giảm mạnh nhất sàn HoSE, tương ứng vốn hóa 7.869 tỷ đồng. Thanh khoản đạt 428.100 đơn vị, tăng 8% so với cả phiên 13/6.