|
| Tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong chăn nuôi |
Đây là thông tin trong dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/01/2020 hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Chăn nuôi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT).
Theo Bộ NN&PTNT, Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ban hành ngày 21/1/2020, có hiệu lực thi hành từ 05/03/2020 đã có nhiều nội dung tạo thuận lợi cho các chủ thể hoạt động chăn nuôi, phát huy hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về chăn nuôi. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số tổ chức, cá nhân đã có văn bản đề nghị nghiên cứu, xem xét lại các quy định liên quan về Giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc văn bản có giá trị tương đương (CFS) và Cửa khẩu tiếp nhận vật nuôi sống nhập khẩu vào Việt Nam.
Về Giấy chứng nhận lưu hành tự do hoặc văn bản có giá trị tương đương (CFS)
Một số tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nhập khẩu thức ăn chăn nuôi phản ánh gặp khó khăn về việc cung cấp CFS trong hồ sơ đăng ký kiểm tra chất lượng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi truyền thống. Lý do là quy định về cấp CFS cho sản phẩm thức ăn chăn nuôi truyền thống còn có sự khác nhau giữa các quốc gia về cơ quan có thẩm quyền cấp. Ở một số quốc gia, CFS được tổ chức, hiệp hội cấp mà không phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền; một số nước xuất khẩu chưa cấp CFS cho một số mặt hàng thức ăn chăn nuôi truyền thống...
|
| Cải cách thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp nhập khẩu thức ăn chăn nuôi |
Để tháo gỡ những khó khăn này, Dự thảo Nghị định đã sửa đổi, bổ sung những quy định mới tại điểm c Khoản 3 Điều 18.
Cụ thể, Cục Chăn nuôi sẽ kiểm tra định kỳ hằng năm với tần suất không quá 02 lần đối với 01 sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có cùng nguồn gốc xuất xứ; không quá 02 lần đối với 01 đơn vị nhập khẩu. Việc lựa chọn sản phẩm và đơn vị nhập khẩu để kiểm tra hằng năm dựa theo các tiêu chí sau:
Đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi, kiểm tra bản chất, công dụng, cơ sở sản xuất, nước sản xuất, số lượng nhập khẩu và giá trị nhập khẩu trong một năm; kết quả kiểm tra chất lượng trong các năm trước đó.
Đối với đơn vị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, kiểm tra số lượng sản phẩm nhập khẩu và số lượng nhập khẩu đối với từng sản phẩm của đơn vị trong một năm trước đó; mục đích nhập khẩu; kết quả chấp hành các quy định của pháp luật liên quan.
Kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm của đơn vị nhập khẩu, hoặc khi có tố cáo, khiếu nại hoặc theo chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên.
Về trình tự kiểm tra, Cục Chăn nuôi sẽ truy cập thông tin lô hàng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu trên Cổng thông tin một cửa quốc gia để làm căn cứ xây dựng chương trình kiểm tra hằng năm. Sau đó, Cục Chăn nuôi thông báo chương trình kiểm tra tới cơ quan kiểm tra là các Sở NN PTNT.
Đối tượng kiểm tra là các lô hàng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu không thuộc đối tượng phải lấy mẫu để kiểm tra nhà nước về chất lượng trước thông quan.
Về cửa khẩu tiếp nhận vật nuôi sống nhập khẩu vào Việt Nam
Một số doanh nghiệp, địa phương đề xuất bổ sung các cửa khẩu được phép tiếp nhận động vật sống (như các cửa khẩu Hòn La, Cha Lo, Long An, Vũng Áng…) để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đã xây dựng địa điểm nuôi cách ly gần khu vực các cảng này, bảo đảm an toàn dịch bệnh, giảm chi phí vận chuyển.
|
| Bổ sung quy định về cửa khẩu tiếp nhận vật nuôi sống nhập khẩu |
Tiếp thu ý kiến đề xuất của các doanh nghiệp và địa phương, dự thảo Nghị định đã có sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 29 bằng việc quy định lại các cửa khẩu được tiếp nhận vật nuôi sống.
Dự thảo Nghị định nêu rõ trừ trường hợp thỏa thuận giữa Việt Nam và nước ngoài có quy định khác, các cửa khẩu tiếp nhận vật nuôi sống nhập khẩu vào Việt Nam bao gồm: Cảng hàng không quốc tế; Cửa khẩu biên giới đất liền (bao gồm: Cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu chính); Cảng biển đặc biệt, cảng biển loại I, cảng biển loại II và cảng biển tiếp nhận tàu nước ngoài.
Theo Bộ NN&PTNT, những sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 13/2020/NĐ-CP ngày 21/1/2020 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết Luật Chăn nuôi là cần thiết, nhằm hoàn thiện đầy đủ, đồng bộ khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, kinh tế, môi trường, an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh nhằm phát triển ngành chăn nuôi hiện đại, bền vững, phù hợp với phát triển kinh tế xã hội.
Qua đó, thúc đẩy phát triển sản xuất ngành chăn nuôi, kiểm soát an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm trong chăn nuôi, thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng về chăn nuôi, phù hợp với chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045.
Việc sửa đổi, bổ sung nói trên cũng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh ngành chăn nuôi, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tạo hành lang pháp lý cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh dễ thực hiện, cơ quan quản lý nhà nước hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm hành chính.