![]() |
| Ảnh minh họa: VIB |
Theo báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý 2/2026 của Chứng khoán VPBank (VPBankS), Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB, mã: VIB) đạt lợi nhuận trước thuế 2.383 tỷ đồng trong quý 2, giảm 8,2% so với cùng kỳ năm ngoái (YoY). Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí dự phòng tăng hơn gấp đôi, dù lợi nhuận trước dự phòng vẫn tăng 13,4%.
Thu nhập dịch vụ hỗ trợ tăng trưởng
VPBankS cho biết tổng thu nhập hoạt động quý 2/2026 của VIB đạt 5.368 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng 10,1%.
Ở chiều ngược lại, thu nhập ngoài lãi giảm 12,9% từ mức nền cao của cùng kỳ. Khoản lỗ từ kinh doanh ngoại hối và chứng khoán đầu tư lần lượt ở mức 423 tỷ đồng và 49 tỷ đồng, qua đó bù trừ phần lớn mức tăng từ hoạt động dịch vụ.
Lãi thuần từ dịch vụ đạt 1.075 tỷ đồng, tăng 168% so với cùng kỳ, được hỗ trợ đáng kể bởi 702 tỷ đồng thu nhập từ phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance).
Trong bối cảnh NIM chịu áp lực, báo cáo cho biết VIB xác định ba động lực tăng trưởng phí. Trong đó, phí thẻ duy trì mức tăng khoảng 20-30% mỗi năm trong 8 năm qua, gắn với chi tiêu thẻ và số lượng thẻ đang hoạt động. Bancassurance là mảng đã đóng góp đáng kể từ giai đoạn 2018-2019, trong khi dịch vụ ngân hàng giao dịch và ngân hàng doanh nghiệp được xem là động lực mới nổi.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu nhập hoạt động của VIB đạt 11.228 tỷ đồng, tăng 15,5% so với cùng kỳ. Thu nhập lãi thuần tăng 9,1%, còn thu nhập ngoài lãi tăng 40,2%.
NIM đi ngang, tín dụng dịch chuyển sang doanh nghiệp
Theo phân tích của VPBankS, NIM quý 2/2026 của VIB đạt 3,1%, gần như không thay đổi so với cùng kỳ. Lợi suất tài sản sinh lãi tăng 142 điểm cơ bản lên 8,3%, nhưng mức cải thiện này gần như bị hấp thụ bởi chi phí vốn tăng 149 điểm cơ bản, lên 5,6%.
Tăng trưởng tín dụng tiếp tục chậm lại khi cho vay khách hàng đạt 397.083 tỷ đồng, tăng 4% so với đầu năm, thấp hơn mức 9,9% ghi nhận cùng kỳ năm trước.
Cơ cấu tín dụng của VIB đang dịch chuyển về phía khách hàng doanh nghiệp. Dư nợ đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tăng 19,6% so với đầu năm, đưa tỷ trọng từ 27,6% lên 31,8%.
Ngược lại, cho vay cá nhân giảm 2%, khiến tỷ trọng trong tổng dư nợ giảm từ 69,8% xuống 65,8%. Cơ cấu kỳ hạn cũng dịch chuyển nhẹ sang các khoản vay dài hơn, khi tỷ trọng cho vay trung và dài hạn tăng từ 58,4% lên 59,5%.
Ở phía nguồn vốn, CASA giảm từ 14,6% cuối năm 2025 xuống 11,9%, trong khi tỷ trọng tiền gửi có kỳ hạn tăng từ 85,4% lên 88,1%.
Dù vậy, tiền gửi khách hàng vẫn tăng 7,8% so với đầu năm và cao hơn mức bình quân ngành theo công bố của VIB. VPBankS đánh giá diễn biến này cho thấy áp lực chủ yếu nằm ở cơ cấu và giá vốn, thay vì khả năng huy động.
Ban lãnh đạo VIB đặt mục tiêu duy trì NIM quanh mức hiện tại trong nửa cuối năm. Ngân hàng cũng đang xem xét huy động khoảng 500 triệu USD trong tổng danh mục vốn quốc tế tiềm năng khoảng 1 tỷ USD, tùy thuộc vào chi phí và điều kiện thị trường.
Nợ xấu giảm nhưng nợ nhóm 2, nhóm 3 cần theo dõi
Chất lượng tài sản là một trong những vấn đề VPBankS lưu ý trong báo cáo. Dù tỷ lệ nợ xấu đã giảm xuống 2,93%, sự gia tăng của nợ nhóm 2 và nhóm 3 vẫn là những chỉ tiêu cần tiếp tục theo dõi.
Cụ thể, chi phí dự phòng quý 2/2026 tăng 101,5% so với cùng kỳ, lên 1.281 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng, chi phí dự phòng đạt 2.486 tỷ đồng, tăng 135,2%.
Số dư nợ xấu cuối quý 2 đạt 11.617 tỷ đồng, tăng khoảng 2,5% so với đầu năm. Tuy nhiên, nhờ dư nợ cho vay tăng nhanh hơn, tỷ lệ nợ xấu giảm 4 điểm cơ bản so với cuối năm 2025 và 63 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống 2,93%.
Trong 6 tháng đầu năm, VIB sử dụng khoảng 2.282 tỷ đồng dự phòng để xử lý rủi ro, tăng 11,6% so với cùng kỳ, trong đó riêng quý 2 đạt 1.113 tỷ đồng.
Việc đẩy mạnh xử lý rủi ro góp phần đưa nợ nhóm 5 giảm 9,7% so với đầu năm, xuống 5.742 tỷ đồng, qua đó kiểm soát quy mô nợ xấu nội bảng.
Ở chiều ngược lại, nợ nhóm 2 tăng 11,4% so với đầu năm, lên 10.184 tỷ đồng, khiến tỷ lệ nợ nhóm này tăng 17 điểm cơ bản lên 2,6%. Nợ nhóm 3 cũng tăng 26,9%, lên 2.727 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 0,7%, tăng khoảng 12 điểm cơ bản.
Theo ban lãnh đạo VIB, nợ nhóm 2 gia tăng một phần do lãi suất cho vay cao hơn, ảnh hưởng đến dòng tiền của khách hàng.
Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) cải thiện nhẹ từ 42,9% cuối năm 2025 lên 43,6%. Tuy nhiên, theo VPBankS, mức này vẫn thuộc nhóm tương đối thấp trong ngành.
Dự phòng hấp thụ mức tăng lợi nhuận trước dự phòng
Ở khía cạnh hiệu quả hoạt động, VPBankS ghi nhận chi phí hoạt động của VIB trong quý 2 giảm 9,6% so với cùng kỳ, xuống 1.704 tỷ đồng, chủ yếu nhờ chi phí nhân viên giảm 18%.
Trong khi tổng thu nhập hoạt động tăng 4,9%, việc kiểm soát chi phí giúp tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) giảm từ 36,9% xuống 31,7%. Lợi nhuận trước dự phòng theo đó tăng 13,4%, đạt 3.664 tỷ đồng.
Lũy kế 6 tháng, CIR của VIB ở mức 31,7%, nằm trong mục tiêu 30-35% của ngân hàng.
Tuy nhiên, VPBankS chỉ ra rằng mức tăng của lợi nhuận trước dự phòng đã bị hấp thụ hoàn toàn bởi chi phí dự phòng. Riêng quý 2, khoản chi này tăng 101,5% so với cùng kỳ lên 1.281 tỷ đồng, kéo lợi nhuận trước thuế giảm khoảng 8,2% xuống 2.383 tỷ đồng.
Theo đó, bức tranh quý 2 của VIB cho thấy thu nhập lãi thuần và phí dịch vụ vẫn hỗ trợ tăng trưởng hoạt động, trong khi NIM duy trì tương đối ổn định và tỷ lệ nợ xấu giảm. Tuy nhiên, chi phí dự phòng gia tăng cùng diễn biến của nợ nhóm 2 và nhóm 3 là những yếu tố VPBankS cho rằng cần tiếp tục theo dõi trong thời gian tới.