Theo số liệu công bố ngày 20/5 của Cục Hải quan, nửa đầu tháng 5/2026 (1/5 – 15/5), kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 47,7 tỷ USD, bao gồm 21 tỷ USD giá trị xuất khẩu (tăng 23% so với cùng kỳ năm trước – YoY) và 26,7 tỷ USD về nhập khẩu (tăng 38,6% YoY).
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/5, xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 394 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 190 tỷ USD, tăng 20,4% YoY; nhập khẩu đạt 204 tỷ USD, tăng 31% YoY; nhập siêu 14 tỷ USD.
Bốn mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD
Từ đầu năm đến ngày 15/5, Việt Nam có 4 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị từ 10 tỷ USD trở lên. Bao gồm, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện với 48,8 tỷ USD, tăng 46,5% YoY; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác với 23,5 tỷ USD, tăng 22,5% YoY.
Việt Nam còn thu về 23,4 tỷ USD từ xuất khẩu điện thoại và linh kiện, tăng 18,8% so với cùng kỳ; dệt may với 13,3 tỷ USD, tăng 1,4% YoY.
Tổng kim ngạch 4 mặt hàng trên đạt 109,1 tỷ USD, tương ứng chiếm 57% tỷ trọng xuất khẩu.
Ở nhóm may mặc, bên cạnh dệt may, Việt Nam xuất khẩu giày dép đạt 8,6 tỷ USD, tăng nhẹ 0,5% YoY; xơ sợi dệt với 1,6 tỷ USD, tăng 8,8% YoY. Kim ngạch xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may, da giày với 948 triệu USD, tăng 10,4% YoY; vải mành, vải kỹ thuật đạt 293 triệu USD, tăng 1,1% YoY.
Tính đến giữa tháng 5/2026, Việt Nam còn thu về 613 triệu USD từ sản phẩm dệt đã hoàn thiện, cùng kỳ năm trước không ghi nhận số liệu xuất khẩu mặt hàng này.
Ở nhóm nông lâm thủy sản, Việt Nam xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng 4,2% YoY, lên 6,2 tỷ USD; cao su với 901 triệu USD, giảm 3,7% YoY.
Một số mặt hàng trong nhóm này tăng cao như rau quả tăng 22,3% YoY, lên 2,3 tỷ USD; thủy sản tăng 12,5% YoY, đạt 4,1 tỷ USD; hạt tiêu với 18,3% YoY, lên mức 689 triệu USD.
Sắn và sản phẩm từ sắn xuất khẩu tăng 6,7% YoY, đạt 576 triệu USD; hạt điều tăng 1,4% YoY, đạt 1,5 tỷ USD; chè tương đương cùng kỳ với 65,9 triệu USD.
Ngược lại, giá trị xuất khẩu cà phê lại giảm 11,8% YoY, còn 3,8 tỷ USD; gạo giảm 7,6% YoY, xuống mức 1,79 tỷ USD. Cục Hải quan cũng công bố số liệu xuất khẩu quế và hoa quế với 104 triệu USD, cùng kỳ không có số liệu mặt hàng này.
Ở nhóm nguyên vật liệu công nghiệp, một số mặt hàng tăng trưởng cao như chất dẻo nguyên liệu tăng 48,2% YoY, lên 1,3 tỷ USD; hóa chất tăng 26,2% YoY, đạt 1,2 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 10,5% YoY, ở mức 2,8 tỷ USD.
Ở nhóm năng lượng & khoáng sản, xuất khẩu than tăng tới 74% YoY, đạt 93 triệu USD; xăng dầu cũng tăng 33% YoY, lên 500 triệu USD; dầu thô với 11,5% YoY, đạt 649 triệu USD; quặng và khoáng sản khác với 70 triệu USD giảm 9% YoY.
Nhiều mặt hàng nhập khẩu “nhảy vọt”
Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/5, Việt Nam đã chi 204 tỷ USD để nhập khẩu hàng hóa, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là mặt hàng nhập khẩu lớn nhất, tăng tới 56,8% so với cùng kỳ, lên 77,6 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác cũng tăng 22,6% YoY, lên 24,6 tỷ USD.
Tổng kim ngạch hai mặt hàng trên đạt 102,2 tỷ USD, chiếm 50% tỷ trọng nhập khẩu.
Ở nhóm may mặc, vải nhập khẩu giảm nhẹ 0,1% YoY, còn 5,6 tỷ USD; bông giảm 6,7% YoY, còn 1,1 tỷ USD. Kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may tăng nhẹ 3,6% YoY, lên 2,7 tỷ USD; xơ sợi dệt với 7,6% YoY, đạt 1,1 tỷ USD.
Trong kỳ, nhiều mặt hàng nhập khẩu khác cũng tăng trưởng đột biến. Cụ thể, ở nhóm phương tiện, linh kiện và phụ tùng ô tô tăng tới 45,3% YoY, lên 2,8 tỷ USD; ô tô nguyên chiếc với 23,3% YoY, đạt 1,9 tỷ USD; phương tiện vận tải và phụ tùng với 45,6% YoY, ở mức 740 triệu USD. Nhập khẩu xe máy và linh kiện phụ tùng cũng tăng 35,9% YoY, đạt 347 triệu USD.
Ở nhóm nguyên vật liệu công nghiệp, giá trị nhập khẩu kim loại thường khác tăng mạnh 32,2% YoY, lên 5,3 tỷ USD; sản phẩm từ kim loại thường khác tăng 27,7% YoY, đạt 1,9 tỷ USD. Đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng tới 300% YoY, từ 351 triệu USD tại cùng kỳ năm trước lên 1,4 tỷ USD tại kỳ này.
Kim ngạch nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép tăng 30,9% so với cùng kỳ, lên 3,4 tỷ USD; hóa chất tăng 26% YoY, đạt 3,7 tỷ USD; sản phẩm hóa chất tăng 17,5% YoY, ở mức 3,3 tỷ USD; sản phẩm từ chất dẻo tăng 20,8% YoY, đạt 4,2 tỷ USD.
Ở nhóm năng lượng & khoáng sản, giá trị nhập khẩu xăng dầu tăng tới 85% YoY, lên 4,5 tỷ USD; khí đốt hóa lỏng tăng 47,8% YoY, đạt 1 tỷ USD; quặng và khoáng sản khác tăng 35,1% YoY, ở mức 1,5 tỷ USD; than tăng 14,1% YoY, ở mức 3,2 tỷ USD.
Sản phẩm khác từ dầu mỏ nhập khẩu tăng trưởng ba con số với 101% so với cùng kỳ, từ 626 triệu USD lên 1,2 tỷ USD.
Ở nhóm nông lâm thủy sản, các mặt hàng nhìn chung đều tăng cao. Trong đó, giá trị nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng 21,7% YoY, đạt 1,29 tỷ USD; hạt điều tăng 25% YoY, đạt 2,3 tỷ USD; rau quả tăng 32,2% YoY, ở mức 1,1 tỷ USD.
Kim ngạch nhập khẩu lúa mì tăng 50,6% YoY, lên 1,05 tỷ USD; ngô cũng tăng 35,1% YoY, đạt 1,1 tỷ USD; đậu tương tăng 68% YoY, đạt 652 triệu USD; sữa và sản phẩm sữa tăng 20,2% YoY, ở mức 620 triệu USD.
Thủy sản nhập khẩu trong kỳ lại giảm nhẹ 0,03% so với cùng kỳ, còn 1,16 tỷ USD.
Tại kỳ này, Việt Nam còn chi 1,07 tỷ USD để nhập khẩu thịt và sản phẩm thịt, 514 triệu USD để nhập khẩu sắn và sản phẩm từ sắn, cùng kỳ Cục Hải quan không công bố/ghi nhận số liệu nhập khẩu mặt hàng này.