Thảo luận tại tổ về việc hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình, các đại biểu Quốc hội Đoàn TP Hà Nội đều bày tỏ thống nhất cao với việc hợp nhất.
![]() |
| Các đại biểu Đoàn TP Hà Nội thảo luận tại tổ sáng ngày 19/8. Ảnh: Media Quốc hội |
Theo đại biểu Nguyễn Thị Lan, đây là hướng đi cần thiết và xuất phát từ thực tiễn triển khai thời gian qua. Khi thực hiện các chương trình riêng lẻ, có nhiều văn bản hướng dẫn, trong khi đối tượng và nội dung của các chương trình có sự giao thoa, chồng chéo.
Đại biểu Trần Thị Nhị Hà cho rằng, việc tích hợp sẽ góp phần khắc phục tình trạng có quá nhiều đầu mối, nhiều văn bản hướng dẫn, khó lồng ghép nguồn lực, chồng chéo và chậm giải ngân; đồng thời tăng quyền chủ động cho địa phương và chuyển mạnh từ quản lý ngân sách theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra.
Tuy nhiên các đại biểu cũng đồng thuận rằng đây không đơn thuần là việc sắp xếp kỹ thuật hay đổi tên chương trình mà là một sự thay đổi lớn về pháp lý khi dự thảo nghị quyết mới sẽ thay thế các nghị quyết hiện hành của Quốc hội liên quan đến nhiều lĩnh vực. Và yêu cầu quan trọng là việc tích hợp không được làm thay đổi hoặc thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi và mức độ ưu tiên mà Quốc hội đã quyết định.
Đại biểu Nguyễn Thị Lan dẫn nội dung tờ trình của Chính phủ đã nhận diện một số rủi ro trong quá trình hợp nhất, như có thể làm giảm mức độ ưu tiên đối với một số nhóm đặc thù, gây mất cân đối nguồn lực và chênh lệch mức thụ hưởng giữa các địa phương.
Từ đó, bà đề nghị nghị quyết cần thể hiện rõ nguyên tắc địa phương được chủ động lựa chọn cách thức thực hiện và điều chỉnh nguồn lực, nhưng phải bảo đảm các mục tiêu cốt lõi và nhóm đối tượng ưu tiên mà Quốc hội đã quyết định. Đồng thời, cần có dữ liệu về nguồn lực và kết quả để có thể theo dõi riêng đối với từng nhóm mục tiêu, đối tượng trên địa bàn.
“Nếu làm được việc này, chúng ta vừa phân cấp mạnh được nhưng lại vừa tránh được tình trạng sau khi hợp nhất thì những mục tiêu khó, những nhóm yếu thế hoặc những địa bàn khó khăn lại ít được quan tâm hơn,” đại biểu Nguyễn Thị Lan nói.
Phải xác định được "địa chỉ" trách nhiệm cụ thể
![]() |
| Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu tại tổ. Ảnh: Đinh Nhung/Mekong ASEAN |
Vấn đề thứ hai được đại biểu Nguyễn Thị Lan đề cập là cần chuyển thực chất từ quản lý giải ngân sang quản trị kết quả phát triển, qua đó rút kinh nghiệm từ quá trình thực hiện các chương trình trong giai đoạn trước.
Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đã quy định quản lý trên cơ sở dữ liệu dùng chung, theo dõi đồng bộ mục tiêu, nguồn lực, tiến độ giải ngân, đối tượng thụ hưởng và sản phẩm đầu ra; đồng thời lấy kết quả thực hiện làm căn cứ phân bổ nguồn lực.
Tuy nhiên, theo đại biểu, cần phân biệt rõ hai nhóm chỉ số. Nhóm thứ nhất là các chỉ số thực hiện như tiến độ, giải ngân và chấp hành chế độ báo cáo. Nhóm thứ hai là các chỉ số về kết quả phát triển cuối cùng, tức người dân và xã hội thực sự nhận được gì sau khi chương trình được triển khai.
Lấy ví dụ về giảm nghèo, bà cho rằng không nên chỉ đánh giá đã hỗ trợ được bao nhiêu mô hình hay giải ngân được bao nhiêu phần trăm. Quan trọng hơn là phải xác định thu nhập của người dân tăng lên bao nhiêu, bao nhiêu việc làm bền vững được tạo ra, bao nhiêu hộ thoát nghèo và không tái nghèo, sản phẩm có thị trường hay không và các mô hình có tiếp tục tồn tại sau khi kết thúc hỗ trợ của Nhà nước hay không.
Đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát bộ tiêu chí đánh giá đầu ra theo hướng tách rõ tiến độ giải ngân khỏi kết quả phát triển. “Nếu làm được điều này, thực chất là chúng ta đã chuyển từ việc quản lý việc chi tiền sang quản trị giá trị mà ngân sách tạo ra,” đại biểu nhấn mạnh.
Cũng liên quan đến vấn đề đánh giá kết quả, đại biểu Trần Thị Nhị Hà đề cập là trách nhiệm của các Bộ, ngành trong quản lý các mục tiêu của chương trình. Theo bà, cần làm rõ trách nhiệm của các Bộ chuyên ngành như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong quản lý mục tiêu theo lĩnh vực chuyên môn; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan điều phối chung, Bộ Tài chính và các địa phương.
Đặc biệt, khi các chỉ tiêu của chương trình không đạt hoặc xảy ra tình trạng chậm giải ngân thì phải xác định được "địa chỉ" trách nhiệm cụ thể. “Chúng ta đã đầu tư nguồn lực thì phải có kết quả,” đại biểu nhấn mạnh.
Bảo đảm đầu tư đúng, trúng mục tiêu và nhiệm vụ
Góp ý cụ thể hơn vào lĩnh vực y tế, đại biểu Trần Thị Nhị Hà cho biết, tổng nguồn lực dự kiến dành cho chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển là 88.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 11% tổng nguồn lực của 4 chương trình. Trong đó, ngân sách Trung ương khoảng 68.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng 20.000 tỷ đồng và nguồn huy động khác dự kiến khoảng 594 tỷ đồng.
Đại biểu cho rằng chương trình y tế không chỉ đầu tư cho y tế cơ sở mà còn bao gồm phòng bệnh, kiểm soát bệnh tật, bệnh không lây nhiễm, dinh dưỡng, sức khỏe học đường, dân số và phát triển, thích ứng với già hóa dân số, chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc xã hội đối với người dễ bị tổn thương, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, truyền thông y tế, chuyển đổi số, giám sát và đánh giá.
Đây đều là những nhiệm vụ có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và nhiều nhóm đối tượng. Do đó, nguồn lực khoảng 88.600 tỷ đồng cần được thuyết minh và phân bổ rõ ràng để bảo đảm đầu tư đúng, trúng mục tiêu và nhiệm vụ.
![]() |
| Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn. Ảnh: Đinh Nhung/Mekong ASEAN |
Cùng quan tâm đến vấn đề nguồn lực, đại biểu Hoàng Minh Sơn - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, Chính phủ đề xuất quy định mức trần 20% vốn dự kiến bố trí cho lĩnh vực giáo dục đào tạo. Tuy nhiên theo tính toán của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mức trần 20% hiện nay chỉ vừa đủ dành cho phần chi đối với các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp trực thuộc Bộ và các cơ quan Trung ương. “Như vậy đối với các lĩnh vực khác nữa thì không còn,” Bộ trưởng nói.
Theo ông Sơn, chương trình đặt ra những yêu cầu rất cao đối với nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực cũng như việc hiện đại hóa các cơ sở giáo dục và giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy ông cho rằng mức 20% được xác định trên nền tảng trước đây cần được xem xét, tính toán lại để bảo đảm đạt các mục tiêu đã đề ra trong chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo.