![]() |
Các động lực cùng tăng tốc
Kinh tế Việt Nam tăng tốc rõ nét trong quý III/2026, với GDP tăng 9,95%, tiến sát ngưỡng 10% và vượt mức tăng của hai quý đầu năm, đưa kết quả 9 tháng lên 9,01%. Chia sẻ với Mekong ASEAN, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam nhìn nhận, điểm đáng chú ý còn nằm ở cấu thành tăng trưởng, khi nhiều động lực cùng cải thiện.
“Tốc độ tăng trưởng của quý III cao hơn quý trước, thể hiện xu thế kinh tế đang tăng trưởng khá bền vững trong năm vừa qua,” ông nhận định.
Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng lớn nhất. Trong quý III, khu vực này tăng 12,50%, đóng góp 51,57% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14%.
Tính chung 9 tháng, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm; dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo - lĩnh vực giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế - tăng 11,36%.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%. Đầu tư tư nhân cũng được thúc đẩy qua các dự án khởi công và việc tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý; số doanh nghiệp thành lập mới, trở lại hoạt động cao hơn số rút lui. Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%; vốn thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Ngoại thương cũng ghi nhận mức tăng mạnh, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4%. Dù 9 tháng vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD, tháng 9 đã xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD sau tám tháng liên tục nhập siêu. Theo ông Bình, diễn biến này có thể hỗ trợ cán cân thanh toán và tỷ giá.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt hơn 5.925 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng đạt 7,8%, cao hơn mức 7,2% của cùng kỳ năm 2025. Ông Bình cho rằng, tăng trưởng không chỉ cần được nhìn qua quy mô GDP mà còn ở khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng sống của người dân. Vì thế, bên cạnh sản xuất và xuất khẩu thì tiêu dùng, bán lẻ, du lịch và dịch vụ đang tiếp tục tạo sức sống cho thị trường trong nước. Đây cũng là những lĩnh vực gắn trực tiếp với việc làm, thu nhập và sinh kế của người dân và quan trọng hơn là góp phần cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế cuối năm.
Theo ông Bình, điểm sáng của 9 tháng còn là khả năng duy trì ổn định vĩ mô và cải thiện niềm tin doanh nghiệp, nhà đầu tư, dù cán cân thương mại biến động và CPI tiến gần mục tiêu. Sức chống chịu của nền kinh tế được duy trì, khả năng thích ứng với thị trường quốc tế tốt hơn, đồng thời năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ được nâng cao.
![]() |
Giữ nhịp tăng trưởng trước áp lực giá cả và chi phí vốn
Các động lực cùng cải thiện tạo nền tảng cho quý IV, nhưng cũng đặt ra yêu cầu điều hành thận trọng để duy trì đà tăng mà không làm gia tăng sức ép lên các cân đối vĩ mô. Theo TS. Lê Duy Bình, lạm phát là áp lực lớn nhất trong 3 tháng cuối năm, khi CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%, đã tiệm cận mục tiêu. Kiểm soát giá cả cần được ưu tiên để hạn chế tác động đến sức mua, chi phí sản xuất và tránh áp lực duy trì lãi suất cao.
Bên cạnh đó, chi phí lãi vay đối với nền kinh tế hiện nay đang quá cao, tạo áp lực lớn cho nhiều doanh nghiệp và người dân. Tăng trưởng tín dụng đến ngày 28/9 đạt 10,89%, thấp hơn mức 13,37% cùng kỳ năm trước. Do đó, cần cải thiện vấn đề này trong thời gian tới nhằm đưa lãi suất về mức hợp lý để hỗ trợ sản xuất và tiêu dùng.
Cũng theo ông Bình, đầu tư công là một trong những biến số cần được thúc đẩy trong quý IV. Nếu giải ngân tốt nguồn vốn này sẽ hỗ trợ tích cực hơn cho tăng trưởng. Theo Bộ Tài chính, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đến hết ngày 30/9/2026 của cả nước là 64,8% kế hoạch Thủ tướng giao (991.931,6 tỷ đồng). Tuy vẫn còn 27 Bộ, cơ quan trung ương và 15 địa phương có tỷ lệ giải ngân dưới bình quân chung cả nước nhưng như vậy du địa thúc đẩy giải ngân đầu tư công vẫn còn. Và nếu làm tốt nhiệm vụ này trong quý IV thì tốc độ tăng trưởng sẽ tiếp tục được đảm bảo. Muốn vậy, các Bộ, cơ quan, địa phương cần kiên quyết điều chuyển vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án có nhu cầu và tập trung thi công các dự án có tỷ lệ giải ngân thấp.
Theo ông Lê Duy Bình, nhiệm vụ quý IV là duy trì đà tăng của đầu tư, sản xuất, xuất khẩu và tiêu dùng, đồng thời tránh tạo thêm áp lực lên lạm phát, lãi suất và các cân đối vĩ mô.
![]() |
| PGS.TS Phạm Thế Anh, chuyên gia kinh tế, hiện giữ chức vụ Trưởng Khoa Kinh tế học tại Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU). Ảnh: Kiều Chinh/Mekong ASEAN. |
Để mỗi đồng đầu tư tạo thêm năng lực sản xuất
Cùng với yêu cầu giữ ổn định trong những tháng cuối năm, PGS.TS Phạm Thế Anh, chuyên gia kinh tế, Trưởng Khoa Kinh tế học tại Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU) đặt vấn đề về nền tảng tăng trưởng dài hạn: Hiệu quả đầu tư và giá trị mà doanh nghiệp trong nước tạo ra.
Theo ông, khu vực FDI chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu, trong khi nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu. Nếu khu vực tư nhân không tập trung nhiều hơn vào sản xuất, nhất là sản xuất phục vụ xuất khẩu, việc mở rộng đầu tư có thể tiếp tục kéo theo nhu cầu nhập khẩu và ngoại tệ lớn hơn. Tăng trưởng bền vững vì thế cần dựa nhiều hơn vào năng suất và hiệu quả đầu tư.
Đối với doanh nghiệp Việt Nam, yêu cầu đặt ra là chuyển dịch thực chất sang đầu tư công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường sử dụng nhà cung ứng trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.
Khi nhiều linh kiện, nguyên liệu hơn được sản xuất trong nước, mỗi đồng xuất khẩu sẽ đóng góp nhiều hơn cho thu nhập, việc làm và năng lực sản xuất quốc gia, đồng thời giảm nhu cầu nhập khẩu tương ứng. Đây là hướng đi để khắc phục tình trạng xuất khẩu tăng mạnh nhưng giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế còn hạn chế.
Tuy nhiên, ông Phạm Thế Anh lưu ý nội địa hóa không có nghĩa là phải sản xuất mọi thứ trong nước. Doanh nghiệp cần lựa chọn những công đoạn có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia chuỗi giá trị và tạo giá trị gia tăng thực chất.
Về chính sách, cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, giảm chi phí logistics và tạo thuận lợi thương mại. Những cải cách này vừa nâng sức cạnh tranh của hàng Việt trên thị trường quốc tế, vừa giúp doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Sức mua cần được nuôi dưỡng bằng thu nhập thực tế
Năng lực sản xuất được nâng lên cần đi cùng một thị trường nội địa đủ sức hấp thụ. Với doanh nghiệp sản xuất, thương mại và dịch vụ, tiêu dùng trong nước tiếp tục là nguồn dư địa quan trọng.
Dù bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,4% trong 9 tháng, mức tăng sau khi loại trừ yếu tố giá là 7,8%. Khoảng cách này cho thấy cần phân biệt sự mở rộng doanh thu danh nghĩa với mức cải thiện sức mua thực tế.
Theo ông Phạm Thế Anh, giá nhà ở cao đang thu hẹp phần thu nhập dành cho tiêu dùng của nhiều hộ gia đình. Khi phần lớn nguồn lực phải dành cho nhà ở và các khoản chi thiết yếu, người dân có xu hướng thận trọng hơn trong mua sắm, nhất là với hàng hóa có giá trị lớn.
Các chương trình khuyến mại và kích cầu ngắn hạn có thể hỗ trợ thị trường vào những thời điểm cụ thể. Để tiêu dùng tăng trưởng bền vững, nền tảng vẫn là cải thiện thu nhập thực tế, ổn định mặt bằng giá và củng cố niềm tin của người tiêu dùng vào triển vọng kinh tế.
Về dài hạn, ông Phạm Thế Anh cho rằng sức cạnh tranh của nền kinh tế cần được đánh giá cả ở chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh quy mô xuất nhập khẩu và doanh thu bán lẻ, cần nhìn vào giá trị gia tăng mà mỗi đơn vị vốn đầu tư tạo ra, mức cải thiện năng suất của doanh nghiệp và thu nhập thực tế của người dân. Đó là những nền tảng để đà tăng trưởng hôm nay tiếp tục được duy trì trong những năm tới.
Kết nối các động lực để duy trì tăng trưởng cao
Yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng cũng được thể hiện rõ khi nhìn vào kết quả của các địa phương. Theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng Ban Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tăng trưởng GRDP hai con số trong 9 tháng năm 2026 tại một số địa phương như Quảng Ninh, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Bắc Ninh và Ninh Bình là kết quả của quá trình tích lũy năng lực sản xuất, thu hút và thực hiện đầu tư, mở rộng thị trường xuất khẩu và phát triển dịch vụ.
"Công nghiệp chế biến, chế tạo là nền tảng chung, nhưng mức tăng trưởng cao còn được củng cố bởi những động lực bổ trợ phù hợp với lợi thế từng địa phương. Dự án mới đi vào vận hành, doanh nghiệp hiện hữu nâng công suất, khu công nghiệp phát triển, kết nối logistics được cải thiện và các ngành dịch vụ mở rộng cùng sản xuất đang tạo ra hiệu ứng cộng hưởng," bà Mai Hạnh chia sẻ với Mekong ASEAN.
Theo bà Mai Hạnh, chất lượng tăng trưởng cần được đánh giá cả ở mức độ đa dạng hóa động lực, khả năng liên kết doanh nghiệp và sức lan tỏa sang khu vực dịch vụ. Để duy trì tốc độ cao trong những tháng cuối năm và các năm tiếp theo, cần tiếp tục nâng năng suất lao động, tăng hàm lượng công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ và mở rộng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Khi các lợi thế về sản xuất, hạ tầng, đầu tư và thị trường được kết nối, mỗi nguồn lực có thêm điều kiện phát huy hiệu quả và bổ trợ cho các lĩnh vực khác. Chính sự kết nối này giúp tăng trưởng cao có thêm nền tảng để duy trì ổn định và nâng chất lượng trong trung và dài hạn.